MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI

Kết quả hình ảnh cho future contractsTỔNG HỢP TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC (Civillawinfor St.)

  I. Khái niệm, đặc điểm, ưu và nhược điểm của Hợp đồng tương lai

  1. Khái niệm

Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận giữa hai bên tham gia về việc mua và bán một tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với giá được xác định trước.

Như vậy, khi tham gia vào hợp đồng tương lai, bên mua và bên bán đều được biết trước về:

+ Loại hàng hóa (tài sản) sẽ mua – bán là gì;

+ Khối lượng hàng hóa (tài sản) sẽ mua – bán là bao nhiêu;

+ Thời điểm diễn ra giao dịch đó;

+ Giá giao dịch.

2. Đặc điểm của hợp đồng tương lai

a) Tính chuẩn hóa

Hợp đồng tương lai là một công cụ được niêm yết và giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán phái sinh. Vì vậy, các điều khoản của hợp đồng đều được chuẩn hóa. Cụ thể, sở giao dịch nơi niêm yết hợp đồng tương lai sẽ quy định cụ thể các nội dung chi tiết của một hợp đồng, như: loại và chất lượng tài sản cơ sở, quy mô của hợp đồng (số lượng tài sản cơ sở giao dịch tương ứng với một hợp đồng), cách thức giao – nhận cũng như thanh toán giữa hai bên khi hợp đồng đáo hạn…

b) Tính chất cam kết về việc thực hiện nghĩa vụ trong tương lai

Đọc tiếp

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TS. NGUYỄN THANH TUẤN

Ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “quyền con người”, còn có thuật ngữ “nhân quyền”. Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ khái niệm “human rights” trong tiếng Anh. Vì vậy, nếu cho rằng, chỉ xã hội tư bản mới có nhân quyền còn xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ có quyền con người – là không xác đáng.

Cho đến nay ở nước ta nhược điểm chung của các định nghĩa về quyền con người là chưa chỉ ra tính thống nhất trong thuộc tính tự nhiên – xã hội của quyền của con người, và vai trò xã hội – cần phải được chỉ ra của công tác bảo đảm quyền con người. Cần lưu ý là trong định nghĩa về quyền con người không nên dừng ở việc xác định nhân phẩm chung chung, bởi thực tế pháp luật định vị cả nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có ở con người, để thông qua đó, dù là những cá nhân hay nhóm người yếu thế, với năng lực hạn chế, cũng luôn được bảo đảm quyền của mình một cách phù hợp thông qua pháp luật; và việc bảo đảm nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và cả năng lực vốn có của mỗi người và mỗi tập thể không tách rời việc bảo đảm quyền của dân tộc Việt Nam.

Vì thế, theo chúng tôi, một định nghĩa phù hợp với Việt Nam có thể là: Quyền con người là phẩm giá, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có ở con người, được pháp luật công nhận nhằm thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, (bảo đảm) thực hiện và thúc đẩy quyền sống, tự do, hạnh phúc của con người và dân tộc Việt Nam.

Mặc dù có những tương đồng nhất định về tính chất, đối tượng và phạm vi điều chỉnh, quyền con người và quyền công dân vẫn sẽ phát triển theo hai “kênh” khác nhau, mà sẽ không bao giờ hoàn toàn hòa nhập với nhau, khi xã hội loài người vẫn còn nhà nước và pháp luật. Thực tế này đòi hỏi cần tiếp tục xây dựng và củng cố các thể chế hợp tác, để cùng thúc đẩy và bảo đảm cả quyền con người và cả quyền công dân trên mọi cấp độ: cơ sở, địa phương, quốc gia, khu vực và quốc tế.

Đọc tiếp

HIỆN TRẠNG NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Kết quả hình ảnh cho BIỂN ĐÔNG  TRẦN TRỌNG DƯƠNG

Trong khi giới học thuật Trung Quốc đã chuẩn bị một chiến lược nghiên cứu cơ bản dài hơi về biển Đông bằng việc đào tạo các chuyên gia nghiên cứu biển vài ba chục năm trở lại đây, thì Việt Nam do nhiều điều kiện và hoàn cảnh lịch sử khác nhau, dường như đến giờ mới “tự mở cửa” cho chính mình. Và mặc dù đã được khai phóng tự do trong nghiên cứu học thuật, đã được đầu tư ở nhiều chỗ, song từ góc độ quản lý khoa học, các học giả ở Việt Nam hiện vẫn đang phải tự xoay xở trong những điều kiện khác nhau. Bài viết này là một lược sử diễn giải tình hình nghiên cứu Biển Đông thuộc phạm vi của khoa học xã hội và nhân văn1.

Diện tích nước ta bao gồm cả hai phần lãnh thổ và lãnh hải. Diện tích Biển Đông chiếm một tỷ lệ áp đảo so với đất liền. Nhưng các mối quan tâm của nhà nước và giới nghiên cứu tỏ ra tương đối rời rạc, nếu không muốn nói là nhiều khi bị lãng quên, hoặc cố tình quên lãng.

Để lược thuật được tình hình nghiên cứu Biển Đông của Việt Nam, bài viết này khảo sát trên dưới 12002 công bố khoa học  (chủ yếu bằng tiếng Việt), đã công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành và các ấn phẩm (phần lớn là chuyên luận) được phát hành trong nước khoảng 40 năm trở lại đây (từ những năm 1970 đến 2014). Tiêu chí thống kê bao gồm: (1) đầu mục bài nghiên cứu, hoặc chuyên luận nghiên cứu; (2) Các lần xuất bản, công bố (tính cả trường hợp được tái bản).

Một ví dụ tiêu biểu như sau: “Phạm Hoàng Quân. 2008. Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc. Báo Tuổi trẻ, ngày 5/1/2008, tb. 2012. Tạp chí Nghiên cứu Phát triển – Viện NC Phát triển TP.HCM. số 1/2012. tb. 2014a. Trong “Hoàng Sa- Trường Sa: nghiên cứu từ sử liệu Trung Quốc”. Nxb. Văn hóa Văn nghệ. Tp.HCM. tr.7-15”. Đây là một đơn vị điển hình cho mẫu khảo sát. Bài nghiên cứu này được công bố 3 lần ở 3 năm khác nhau (2008, 2012, và 2014) với các mức độ chỉnh sửa, bổ sung khác nhau, được công bố ở 3 kênh xuất bản (báo chí, tạp chí, và chuyên luận). Như thế, bài nhiên cứu này sẽ đồng thời được thống kê ở cả ba năm. Mặt khác, nếu là chuyên luận của một tác giả (một người viết) thì sẽ tương đương với 1 đơn vị; nếu là một tuyển tập bài viết thì các bài viết khác nhau ấy cũng được coi là một đơn vị (như trường hợp các công bố của Phạm Hoàng Quân trong ví dụ trên). Thêm nữa, nếu một chuyên luận được cấu thành từ các chương do nhiều tác giả khác nhau viết, thì mỗi chương sẽ tương ứng với một đơn vị thống kê. Về thời gian khảo sát, chúng tôi chia làm bốn giai đoạn, gồm (1) từ 1970 đến 1975, (2) giai đoạn từ 1980 đến 1984, (3) giai đoạn 1992 đến 1994, (4) giai đoạn từ 2010 đến 2014). Kết quả cụ thể được biểu diễn như biểu chỉ số công bố dưới đây.

Đọc tiếp

PHÁP LUẬT VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Kết quả hình ảnh cho Bank guaranteeTS. BÙI ĐỨC GIANG – Tập đoàn Rent-A-Port Vietnam

Trong hoạt động ngân hàng và thương mại quốc tế, việc ngân hàng Việt Nam phát hành bảo lãnh cho bên thụ hưởng là tổ chức hay cá nhân nước ngoài đã trở nên khá phổ biến trong thực tế. Cùng với xu hướng hội nhập quốc tế, pháp luật Việt Nam cũng công nhận quyền của các bên trong quan hệ bảo lãnh được lựa chọn luật áp dụng và tòa án giải quyết tranh chấp cũng như có những quy định điều chỉnh các khía cạnh khác trong mối quan hệ bảo lãnh đặc biệt này.

Quan hệ hợp đồng

Cam kết bảo lãnh quốc tế có thể được phát hành cho bên thụ hưởng nước ngoài trực tiếp bởi một ngân hàng Việt Nam hoặc bởi một ngân hàng tại nước có trụ sở hoặc nơi ở của bên thụ hưởng nước ngoài và ngân hàng Việt Nam cấp bảo lãnh đối ứng. Có thể minh họa quan hệ bảo lãnh này thông qua bảo lãnh hoàn trả tiền mua hàng hóa, dịch vụ như sau:

Bảo lãnh ngân hàng phát hành trực tiếp bởi một ngân hàng Việt Nam cho bên thụ hưởng nước ngoài và các mối quan hệ hợp đồng phát sinh

Bên mua (M) tại London ký hợp đồng để mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ bên bán (B) tại Hà Nội. Hợp đồng mua bán quy định phải có bảo lãnh do một ngân hàng Việt Nam trực tiếp phát hành để bảo đảm việc hoàn trả cho M số tiền mà M trả cho B. Trong trường hợp này có ba mối quan hệ hợp đồng như sau:

(1) Hợp đồng mua bán giữa M và B.

(2) Thỏa thuận cấp bảo lãnh giữa B và ngân hàng Việt Nam trong đó có thỏa thuận về bắt buộc nhận nợ trả thay.

(3) Cam kết bảo lãnh của ngân hàng Việt Nam cho bên thụ hưởng là M.

Đọc tiếp

PHẢI QUA PHẪU THUẬT MỚI ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ NGƯỜI CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH?

Kết quả hình ảnh cho TransgenderNGUYỄN THÙY DƯƠNG*

Chuyển đổi giới tính là một vấn đề pháp lý mới và phức tạp trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Và một trong những nội dung có khả năng sẽ gây tranh cãi nhiều nhất trong quá trình xây dựng Luật CĐGT là vấn đề xác định điều kiện để được coi là người đã chuyển đổi giới tính.

Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp Việt Nam, quyền chuyển đổi giới tính đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (BLDS 2015), ban hành ngày 24/11/2015. Với cộng đồng người chuyển giới Việt Nam, những ghi nhận của Bộ luật Dân sự 2015 có ý nghĩa thiêng liêng như những dòng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về quyền con người trong bản Tuyên ngôn độc lập. Tuy nhiên, ghi nhận quyền trong BLDS 2015 mới chỉ là sự khởi đầu của một quá trình thực sự công nhận người chuyển giới trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung.

Trước hết, khi BLDS 2015 ghi nhận việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật thì đồng nghĩa với việc sẽ có một luật chuyên ngành về chuyển đổi giới tính tại Việt Nam. Thực tế hiện nay Bộ Y tế đang nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính (Luật CĐGT), dự kiến sẽ trình Quốc hội thông qua vào năm 2018. Và một trong những nội dung có khả năng sẽ gây tranh cãi nhiều nhất trong quá trình xây dựng Luật CĐGT là vấn đề xác định điều kiện để được coi là người đã chuyển đổi giới tính. Liệu có bắt buộc phải thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính và được cấp chứng nhận y học thì mới được coi là đã chuyển giới hay không? Hiện nay nhiều ý kiến cho rằng phải thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính (thông thường là phẫu thuật triệt sản và có thể là phẫu thuật tạo hình) thì mới được coi là đã chuyển giới. Tuy nhiên, về bản chất, người chuyển giới là người có giới tính mong muốn không trùng với giới tính khi sinh ra và không phụ thuộc tình trạng cơ thể đã phẫu thuật hay chưa1. Một khảo sát tại Việt Nam cũng đã chứng minh không phải tất cả người chuyển giới đều có nhu cầu phẫu thuật chuyển giới2. Sẽ là không thấu đáo nếu áp đặt suy nghĩ phải phẫu thuật (triệt sản hay tạo hình) thì mới được coi là người đã chuyển giới, chưa kể tới quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nói chung và người chuyển giới nói riêng đã được ghi nhận tại Hiến pháp 2013 và BLDS 20153.

Đọc tiếp

VẤN ĐỀ NGƯỜI CHUYỂN GIỚI Ở VIỆT NAM: CẦN CHẤP NHẬN SỰ ĐA DẠNG

NGUYỄN THU QUỲNH

Hiện nay hệ thống pháp lý ở Việt Nam đã có những thay đổi căn bản để bảo vệ quyền của người chuyển giới, nhưng đó mới chỉ là điểm khởi đầu cho nhiều nỗ lực tiếp theo nhằm không chỉ công nhận những quyền hiển nhiên của người chuyển giới mà còn phải thay đổi nhận thức của xã hội trong ứng xử với họ.

Bị kỳ thị khi sống đúng với bản dạng giới

Từ ngoại hình, cử chỉ cho tới cách nói chuyện tự nhiên như bất kỳ người đàn ông nào khác, Phong1, một người chuyển giới nam (transgender2) không hề gợi cho chúng tôi một ý niệm nào về việc trước đây anh từng mang ngoại hình là nữ. Nhưng Phong đã và đang gặp phải rất nhiều khó khăn khi tìm việc làm và chịu đựng nhiều kỳ thị ở công sở cũng như nhiều không gian công cộng khác. “Khi em nộp hồ sơ xin việc, nhìn thấy giới tính của mình khác với giới tính được ghi trong hồ sơ, họ đặt ra câu hỏi về giới tính của em sau đó khẳng định em không phù hợp với công việc đó. Thậm chí khi em đã trúng tuyển, họ rà soát về giới tính và biết em là người chuyển giới thì lại nói rằng khách hàng của công ty không muốn tiếp xúc khi em thể hiện mình là người chuyển giới và yêu cầu em phải điều chỉnh lối ăn mặc và ngoại hình cho phù hợp với công việc thì mới nhận được. Em đã học đại học, có kinh nghiệm làm việc nhất định, nhưng họ không chấp nhận năng lực, vẫn bị từ chối khi xin việc chỉ vì em sống thật với bản thân mình”, Phong nói.
Trường hợp bị kỳ thị trong môi trường công sở như Phong không phải là hiếm. Theo một nghiên cứu mới đây của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế, môi trường (ISEE)3, có 53% người chuyển giới nữ và 60% người chuyển giới nam bị các nhà tuyển dụng từ chối nhận vào làm việc trong khi đáp ứng đủ các điều kiện về năng lực. Và ngay cả khi được nhận vào làm việc thì có tới 69% người chuyển giới nữ và 66% người chuyển giới nam thường bị kỳ thị, xa lánh ở nơi công sở. Nghiên cứu trên cũng chỉ ra, không chỉ bị phân biệt đối xử ở các không gian công cộng, người chuyển giới còn bị kỳ thị, xa lánh bởi chính người thân, ngay dưới mái nhà họ đang sinh sống. Thống kê xã hội học về kỳ thị đối xử trong gia đình của người chuyển giới cho thấy, 62% người chuyển giới nữ, 80% người chuyển giới nam bị chửi mắng, gây áp lực, 61% người chuyển giới nói chung bị ép thay đổi ngoại hình, cử chỉ, thậm chí có tới 14% trong số họ phải chịu các hành vi bạo lực như nhốt, giam giữ, đánh đập, đuổi khỏi nhà. Riêng ở phạm vi gia đình, các hành vi phân biệt đối xử với người chuyển giới còn nhắm tới việc ngăn chặn thông tin về thành viên trong gia đình là người chuyển giới bị tiết lộ ra ngoài đồng thời cố gắng thay đổi xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ bằng các biện pháp y học, tâm linh hay lối sinh hoạt và ngăn cản các mối quan hệ tình cảm của họ. Nhìn chung, các hành vi phân biệt đối xử xuất phát bởi sự định kiến và dè bỉu các bản dạng giới (gender identity)4 và xu hướng tính dục của người chuyển giới “khác” với các bản dạng giới và xu hướng tính dục được coi là “thông thường”.

Đọc tiếp

BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ: NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM ÁP DỤNG LUẬT HADOPI CỦA CỘNG HÒA PHÁP

TS. NGUYỄN THỊ HẢI VÂN – Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TPHCM

Mở đầu

Quyền tác giả được luật pháp ghi nhận và bảo vệ. Đó là quyền dành cho các tác giả sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học. Cụ thể quyền này dành cho các nhà văn, nhạc sĩ, nhà xuất bản… sản xuất và xuất bản các tác phẩm văn học, âm nhạc, nghệ thuật… Quyền tác giả bao gồm hai nội dung: quyền tài sản và quyền tinh thần. Trong đó, quyền tài sản cho phép tác giả hoặc người nắm giữ quyền được sản xuất, công bố tác phẩm của mình và khai thác các lợi ích tài chính trong một thời hạn nhất định cho đến khi tác phẩm rơi vào lĩnh vực công cộng.

Với tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, sự xuất hiện của Internet đã hình thành một môi trường đặc biệt – môi trường kỹ thuật số – làm cho việc bảo hộ quyền tác giả khó khăn và phức tạp hơn. Môi trường kỹ thuật số giúp cho việc sao chép, tải về máy cá nhân một cách bất hợp pháp dễ dàng hơn, vì vậy gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu quyền tác giả nhiều hơn. Pháp luật Việt Nam về vấn đề này vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện. Việc nghiên cứu kinh nghiệm các quốc gia khác về Quyền tác giả và Internet – môi trường kỹ thuật số (1) – cho phép có một cái nhìn tổng quát hơn về các chế định cũng như các biện pháp để tăng cường bảo hộ quyền tác giả trong bối cảnh mới. Bài viết này sẽ trình bày một số kinh nghiệm lập pháp, bối cảnh lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật (2) của một số quốc gia trên thế giới.

1. Quyền tác giả và xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số

a. Tác phẩm kỹ thuật số trong môi trường mạng Internet

Tác động của Internet đối với quyền tác giả có thể tích cực cũng có thể không, tùy theo lập trường của người quan sát. Bởi vì, một cách tổng quát, ở góc độ là phương tiện truyền thông, Internet là một phương tiện hiện đại tiếp nhận các sáng tạo tinh thần; ở góc độ là một công nghệ, Internet là môi trường lý tưởng để đưa tác phẩm tiếp cận với công chúng nhanh chóng và đông đảo nhất. Có thể thấy tác động của môi trường kỹ thuật số qua ba hình thức tương đối phổ biến: nhân bản không giới hạn tác phẩm; sửa đổi, cắt xén tác phẩm theo ý chí riêng; và tải về để lưu trữ trên máy tính cá nhân. Làm rõ khái niệm “tác phẩm kỹ thuật số” (1) cho phép xác định phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm này chống lại sự xâm phạm quyền trong môi trường Internet (2) trên cơ sở hiểu biết rõ ràng hơn về một số phương tiện kỹ thuật, công nghệ cho phép tiến hành các hành vi có nguy cơ gây tổn hại đến quyền tác giả (3).

Đọc tiếp

BÚN BÒ HUẾ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT NHÃN HIỆU!


Logo của mẫu nhãn hiệu chứng nhận được in trong quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Bún bò Huế”
TS. NGUYỄN THỊ HẢI VÂN – Giảng viên Trường Đại học Luật TP HCM

Bất kỳ người thứ ba nào có lợi ích liên quan, chẳng hạn như các cơ sở cung cấp dịch vụ ăn uống có bún bò Huế trên cả nước, đều có quyền nộp đơn yêu cầu Cục Sở hữu Trí tuệ không cấp giấy chứng nhận hoặc ra quyết định hủy bỏ “Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Bún bò Huế”

Tiếp theo việc UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế ban hành “Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Bún bò Huế” theo Quyết định số 1623/QĐ-UBND ngày 13-7- 2016, dư luận cho rằng việc dùng Bún bò Huế như nhãn hiệu chứng nhận có thể sẽ hạn chế quyền của những cơ sở cung cấp dịch vụ ăn uống có bán bún bò Huế. Cũng có ý kiến cho rằng việc đăng ký bảo hộ và sử dụng thuật ngữ “Bún bò Huế” như nhãn hiệu là không phù hợp quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ. Căn cứ pháp lý nào cho phép đưa ra kết luận này, chúng ta hãy cùng tìm hiểu.

Nhãn hiệu hàng hóa một loại tài sản đặc biệt: tài sản trí tuệ. Đây là một khái niệm tương đối mới, xuất hiện chính thức và được pháp luật công nhn trước đây chưa lâu trong pháp luật dân sự và từ năm 2005 khi Quốc hội thông qua Luật Sở hữu Trí tuệ (Luật SHTT). Trong phạm vi bài viết này cần xác định lại khái niệm cơ bản về nhãn hiệu và nhãn hiệu chứng nhận, cũng như xem xét mục đích sử dụng của loại nhãn hiệu này trước khi bàn về tính chính danh của nhãn hiệu chứng nhận “Bún bò Huế” và quyền được sử dụng thuật ngữ “bún bò Huế” của những cơ sở cung cấp dịch vụ ăn uống có bún bò Huế.

Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam quy định “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Như vậy, chức năng chính của nhãn hiệu là để phân biệt. Cần thấy rằng mục đích của việc gán nhãn hiệu lên hàng hóa hay dịch vụ chính là để “trung thành hóa” khách hàng, có nghĩa là để khách hàng đã sử dụng sẽ dễ dàng tìm lại mặt hàng hay dịch vụ mình yêu thích hoặc hài lòng và để khách hàng tiềm năng dễ dàng nhận ra hàng hóa hay dịch vụ đó khi muốn tìm đến để sử dụng. Nhãn hiệu không có chức năng bảo đảm về chất lượng hàng hóa.

Đọc tiếp

MỘT SỐ NỘI DUNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NHẬT BẢN VÀ KHUYẾN NGHỊ ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

THS. LÊ ANH TUẤN – TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, BỘ TƯ PHÁP

Qua nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật của Nhật Bản cho thấy quy định pháp thi hành dân sự Nhật Bản có những nội dung tương đồng với pháp luật về thi hành án dân sự ở Việt Nam, tuy nhiên có nhiều nội dung mang tính đặc trưng, đặc thù của Nhật Bản. Ở Nhật Bản pháp luật quy định là thi hành dân sự còn ở Việt Nam là thi hành án dân sự. Xin giới thiệu một số nội dung pháp luật về thi hành dân sự Nhật Bản và khuyến nghị áp dụng tại Việt Nam.

1. Khái lược lịch sử của chế độ thi hành dân sự Nhật Bản 

Lịch sử của chế độ thi hành dân sự Nhật Bản trải qua các giai đoạn lịch sử, từ thời EDO năm 1742 (thế kỷ thứ 17) người có nghĩa vụ phải nộp tiền hai lần mỗi tháng vào ngày 04 và 21 để Toà án giao cho người có quyền, nếu không thanh toán đúng thời hạn thì cùm tay người đó từ 30 ngày đến dưới 100 ngày hoặc bị giam lỏng ở nhà từ 20 ngày đến dưới 100 ngày; nếu vẫn không thi hành thì bị áp dụng quy tắc “thân đại hạn” (shindaikagiri), đó là việc lấy tài sản của người có nghĩa vụ để thanh toán cho người có quyền. Đến thời Minh Trị (1872 thế kỷ thứ 18) có sửa đổi và hiện nay là Luật Thi hành dân sự năm 1979, với 19 lần sửa đổi bắt đầu từ năm 1996 đến lần sửa đổi sau cùng vào năm 2004, là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thi hành dân sự ở Nhật Bản.

2.  Căn cứ pháp luật của thi hành dân sự

– Luật Thi hành dân sự và Quy tắc thi hành dân sự

Quy định pháp luật về thủ tục thi hành dân sự và tổ chức đảm nhận thi hành dân sự của Nhật Bản nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật, quy tắc và thậm chí là cả ở trong các điều ước quốc tế nhưng thủ tục thi hành dân sự hiện nay chủ yếu căn cứ vào hai văn bản chính là “Luật Thi hành dân sự” do Quốc hội ban hành và “Quy tắc thi hành dân sự” do Tòa án tối cao ban hành.
Luật Thi hành dân sự về nguyên tắc quy định các nội dung làm cơ sở cho thủ tục và các nội dung có ảnh hưởng quan trọng đến quyền, lợi nghĩa vụ của đương sự và của những người liên quan khác. Luật Thi hành dân sự quy định các nội dung cần thiết về thủ tục thi hành dân sự, còn đối với những nội dung không được quy định trong Luật Thi hành dân sự hoặc đối với các nội dung nhất định cụ thể thì do Tòa án tối cao ban hành Quy tắc thi hành dân sự.

Đọc tiếp

ĐẠI HỌC ĐỂ LÀM GÌ

Hình ảnh có liên quanGIẢN TƯ TRUNG – Viện IRED TP. HCM

Để “đổi mới” hay “thay đổi” giáo dục đại học thì việc tiên quyết nhất là phải có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về đại học và nền đại học. Nếu nhận thức sai lệch và ấu trĩ thì việc “đổi mới” này sẽ không thể thực hiện được hoặc nếu có thực hiện được đi nữa thì cũng sẽ gây ra những hậu quả tai hại về nhiều mặt.

Hiện nay, có rất nhiều góc nhìn khác nhau về khái niệm đại học và mục đích của đại học, mỗi góc nhìn đưa ra một cách hiểu về đại học và nền đại học. Việc có được nhiều góc nhìn về cùng một vấn đề như vậy là rất hữu ích bởi nó cho chúng ta cơ hội để hiểu vấn đề đó một cách đầy đủ và sâu sắc hơn. Trong phạm vi bài viết này, tôi muốn đóng góp một góc nhìn để góp phần làm rõ khái niệm đại học và nền đại học ở ít nhất ba điểm cơ bản sau: Vai trò của đại học trong xã hội, sứ mệnh của đại học đối với xã hội, và vị trí của đại học trong xã hội.

Vai trò của đại học trong xã hội?

Có thể có nhiều quan điểm về vai trò của đại học trong xã hội, nhưng tôi cho rằng, nền đại học có hai vai trò quan trọng bậc nhất đó là: (1) Lãnh đạo/Dẫn dắt xã hội về mặt trí tuệ và tư tưởng; (2) Đại diện cho chân lý, công lý và lương tri của loài người.
Tất nhiên, ngay cả trong những xã hội văn minh nhất ở những nước phát triển nhất thì không phải “trường đại học” nào cũng dễ dàng làm được những điều này (chẳng hạn như ở đâu đó trong những xã hội này vẫn có cả những “trường đại học” chỉ chuyên “bán bằng”). Nhưng xét trên bình diện chung thì một “nền đại học” đúng nghĩa phải nắm được và thể hiện được những vai trò đó trong xã hội. “Xã hội” ở đây không chỉ được hiểu là một cộng đồng, một địa phương, một quốc gia, mà còn được hiểu là xã hội toàn cầu.

Đọc tiếp

%d bloggers like this: