HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Kết quả hình ảnh cho Property conditions HOÀNG THỊ THU TRANG – Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự năm 2014 (sau đây gọi là Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014) có hiệu lực từ 01/7/2015, đã khắc phục được nhiều bất cập, vướng mắc sau 06 năm thi hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sau đây gọi là Luật THADS năm 2008). Tuy nhiên, để các quy định pháp luật về thi hành án dân sự nói chung, về xác minh điều kiện thi hành án nói riêng tiếp tục được hoàn thiện, phù hợp, bắt nhịp kịp với cuộc sống vốn dĩ sinh động này thì việc nhìn nhận một cách toàn diện thực trạng quy định pháp luật và dự liệu những khó khăn, vướng mắc sẽ gặp phải trong xác minh thi hành án dân sự để từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị thiết thực, có hiệu quả là hết sức cần thiết.

Xác minh điều kiện thi hành án dân sự là việc chấp hành viên thu thập thông tin, tiếp cận, xác định đối tượng mục tiêu cần phải thi hành (tài sản, thu nhập của người phải thi hành án, vật, giấy tờ, nhà phải trả…) và các thông tin khác phục vụ cho quá trình tổ chức thi hành án như: nhân thân, hoàn cảnh gia đình của người phải thi hành án…Đây là hoạt động trung tâm, quan trọng nhất trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Kết quả xác minh là cơ sở để Chấp hành viên thuyết phục đương sự tự nguyện, thỏa thuận thi hành án, là cơ sở để Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra các quyết định ủy thác, hoãn, đình chỉ thi hành án hay lựa chọn biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp. Có thể nói, xác minh điều kiện thi hành án chính là căn cứ làm phát sinh hàng loạt các tác nghiệp khác trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định, đòi hỏi Chấp hành viên cần thiết phải nắm vững cơ sở pháp lý của việc xác minh, kỹ năng xác minh và xử lý kết quả xác minh phù hợp với quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

1. Thực trạng pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự

Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 chỉ có 01 quy định tại khoản 4 Điều 13 về nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên: “Yêu cầu chính quyền địa phương, cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp xử lý tang vật, tài sản và những việc khác liên quan đến việc thi hành án”.

Đọc tiếp

MỘT SỐ NỘI DUNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NHẬT BẢN VÀ KHUYẾN NGHỊ ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

THS. LÊ ANH TUẤN – TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, BỘ TƯ PHÁP

Qua nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật của Nhật Bản cho thấy quy định pháp thi hành dân sự Nhật Bản có những nội dung tương đồng với pháp luật về thi hành án dân sự ở Việt Nam, tuy nhiên có nhiều nội dung mang tính đặc trưng, đặc thù của Nhật Bản. Ở Nhật Bản pháp luật quy định là thi hành dân sự còn ở Việt Nam là thi hành án dân sự. Xin giới thiệu một số nội dung pháp luật về thi hành dân sự Nhật Bản và khuyến nghị áp dụng tại Việt Nam.

1. Khái lược lịch sử của chế độ thi hành dân sự Nhật Bản 

Lịch sử của chế độ thi hành dân sự Nhật Bản trải qua các giai đoạn lịch sử, từ thời EDO năm 1742 (thế kỷ thứ 17) người có nghĩa vụ phải nộp tiền hai lần mỗi tháng vào ngày 04 và 21 để Toà án giao cho người có quyền, nếu không thanh toán đúng thời hạn thì cùm tay người đó từ 30 ngày đến dưới 100 ngày hoặc bị giam lỏng ở nhà từ 20 ngày đến dưới 100 ngày; nếu vẫn không thi hành thì bị áp dụng quy tắc “thân đại hạn” (shindaikagiri), đó là việc lấy tài sản của người có nghĩa vụ để thanh toán cho người có quyền. Đến thời Minh Trị (1872 thế kỷ thứ 18) có sửa đổi và hiện nay là Luật Thi hành dân sự năm 1979, với 19 lần sửa đổi bắt đầu từ năm 1996 đến lần sửa đổi sau cùng vào năm 2004, là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thi hành dân sự ở Nhật Bản.

2.  Căn cứ pháp luật của thi hành dân sự

– Luật Thi hành dân sự và Quy tắc thi hành dân sự

Quy định pháp luật về thủ tục thi hành dân sự và tổ chức đảm nhận thi hành dân sự của Nhật Bản nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật, quy tắc và thậm chí là cả ở trong các điều ước quốc tế nhưng thủ tục thi hành dân sự hiện nay chủ yếu căn cứ vào hai văn bản chính là “Luật Thi hành dân sự” do Quốc hội ban hành và “Quy tắc thi hành dân sự” do Tòa án tối cao ban hành.
Luật Thi hành dân sự về nguyên tắc quy định các nội dung làm cơ sở cho thủ tục và các nội dung có ảnh hưởng quan trọng đến quyền, lợi nghĩa vụ của đương sự và của những người liên quan khác. Luật Thi hành dân sự quy định các nội dung cần thiết về thủ tục thi hành dân sự, còn đối với những nội dung không được quy định trong Luật Thi hành dân sự hoặc đối với các nội dung nhất định cụ thể thì do Tòa án tối cao ban hành Quy tắc thi hành dân sự.

Đọc tiếp

CÔNG NHẬN VÀ BẢO HỘ QUYỀN DÂN SỰ: KHỔ VÌ MUA NHÀ CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN

PHAP LUATTP.VN

Nhiều chuyên gia đã cho rằng cơ quan chức năng cần phải có hướng dẫn khác để bảo vệ được quyền lợi chính đáng của người mua tài sản ngay tình.

Số trước chúng tôi đã phản ánh thực tế xảy ra nhiều trường hợp mua nhà đất, sang tên đổi chủ rồi thì người mua lại gặp rắc rối, nhà đất bị kê biên vì chủ cũ đang có nghĩa vụ thi hành án. Nguyên nhân là các cơ quan thi hành án áp dụng hướng dẫn trong Thông tư liên tịch 12/2001 của Bộ Tư pháp – VKSND Tối cao…

  • Tháng 8-2009, anh Nguyễn Chiến Thắng mua của anh H. một căn nhà ba tầng ở TP Bắc Ninh. Căn nhà đang được thế chấp tại một ngân hàng. Anh Thắng đã cùng anh H. đến ngân hàng thanh toán nợ, được ngân hàng thanh lý hợp đồng, trả giấy tờ nhà đất. Sau đó, anh Thắng mang giấy tờ đến văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để xin xóa thế chấp và đã được xác nhận. Cùng ngày, hai bên ra phường làm thủ tục mua bán và được phường xác nhận… Gần một năm sau, Chi cục Thi hành án TP Bắc Ninh đã ra quyết định kê biên căn nhà của anh Thắng với lý do để bảo đảm việc thi hành án của anh H., chủ cũ.
  • Tháng 7-2008, bà Phạm Thị Hải Hường ngụ quận 10 (TP.HCM) làm đầy đủ thủ tục mua căn nhà của bà C. tại TP Vũng Tàu và đã được cấp chủ quyền. Gần một năm sau, bà Hường nhận được thông báo của Chi cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu là sẽ kê biên căn nhà để đảm bảo thi hành án. Khiếu nại, bà Hường biết bà C. là người phải thi hành án trong một bản án. Bà Hường khiếu nại tiếp thì được Tổng cục Thi hành án dân sự (Bộ Tư pháp) trả lời là Chi cục Thi hành án TP Vũng Tàu đã làm đúng quy định. Theo đó, Thông tư liên tịch 12 hướng dẫn đối với các trường hợp sau khi có bản án, quyết định của tòa, người phải thi hành án chuyển nhượng các tài sản thuộc quyền sở hữu của mình thì chấp hành viên có quyền kê biên tài sản và có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ giao dịch đó. Người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hoặc khởi kiện yêu cầu tòa hủy bỏ giao dịch…
  • Tháng 1-2007, bà Đào Thị Kim Chi mua một căn nhà của bà Nh. ở quận Gò Vấp (TP.HCM). Việc mua bán được làm hợp đồng, có công chứng. Sau đó, bà Chi đã thực hiện hết nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất và đóng lệ phí trước bạ. Vì căn nhà mới chỉ có giấy trắng nên bà đến UBND quận Gò Vấp nộp đơn đề nghị cấp giấy hồng. Một thời gian sau, bà tá hỏa khi được UBND quận cho biết căn nhà đã bị cơ quan thi hành án quận ngăn chặn chuyển nhượng, mua bán từ 10 năm trước. Tìm hiểu, bà Chi mới biết căn nhà trước đây thuộc quyền sở hữu của anh trai bà Nh. (đã mất), vốn là người phải thi hành án trong một vụ án khác. Không hiểu sao văn bản ngăn chặn của cơ quan thi hành án lại không được phòng công chứng biết nên vẫn cho bà mua nhà của bà Nh.

Rất thiệt thòi cho người mua!

Trong công việc, chúng tôi từng gặp một số trường hợp tương tự như vụ mà Pháp Luật TP.HCM phản ánh nhưng chúng tôi không có cách xử lý khác. Về cá nhân, tôi thấy tình trạng này rõ ràng đã gây nhiều thiệt thòi cho những người mua tài sản ngay tình vì tài sản của họ được pháp luật bảo hộ. Thông tư liên tịch 12 cho họ quyền khởi kiện người bán tài sản để yêu cầu hủy bỏ giao dịch nhưng làm vậy lại càng phát sinh những mối quan hệ rắc rối thêm cho các cơ quan tố tụng.

Đọc tiếp

AI BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO NGƯỜI NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN HỢP PHÁP KHI TÀI SẢN NÀY BỊ KÊ BIÊN XỬ LÝ THI HÀNH NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN CỦA NGƯỜI CHUYỂN NHƯỢNG

CHÂU VŨ – Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Ngày 26/7/2010, Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 14/2001/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC (gọi tắt là Thông tư) về việc hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự, Thông tư sẽ có hiệu lực kể từ ngày 15/9/2010. Tại Điều 6 của Thông tư có quy đinh như sau:

“…Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án…”(Điều 6 của Thông tư liên tich).

Xét thấy việc Thông tư quy định như trên là không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba (người nhận chuyển nhượng tài sản), bởi người nhận chuyển nhượng tài sản là người ngay tình, họ không hề biết người chuyển nhượng tài sản cho họ là đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Hai bên tiến hành thủ tục chuyển nhượng tài sản một cách hợp pháp, tuân thủ các quy định của pháp luật về chuyển nhượng tài sản và không bị bất kỳ một cơ quan có thẩm quyền (như Toà án, cơ quan Thi hành án, cơ quan quản lý tài sản có đăng ký quyền sở hữu ở địa phương…) ngăn chặn nên việc chuyển nhượng đã hoàn thành, người nhận chuyển nhượng đã hoàn tất các thủ tục để thực hiện quyền sở hữu tài sản của mình theo quy định của pháp luật Dân sự nên tài sản này là tài sản hợp pháp của họ được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm, tài sản của người phải thi hành án không bị bất kỳ cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn tức là vẫn cho phép tài sản được giao dịch và không bị hạn chế phạm vi giao dịch. Pháp luật Dân sự không buộc người thứ 3 phải biết đó là tài sản cần để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người chuyển nhượng tài sản cho mình. Người thứ 3 thiết lập giao dịch nhận chuyển nhượng tài sản một cách hợp pháp, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật và không bị các cơ quan chức năng nghiêm cấm thì không thể kê biên tài sản đó để thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án là người chuyển nhượng tài sản.

Đọc tiếp

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KÊ BIÊN PHẦN VỐN GÓP THEO ĐIỀU 92 LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

HỒ QUÂN CHÍNH – Chi cục thi hành án dân sự quận Thủ Đức

1. Sự hình thành phần vốn góp:

Theo giải thích tại khoản 4 Điều 4 luật doanh nghiệp năm 2005 (gọi tắt là LDN) thì “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty”. Như vậy, tài sản để tham gia vào việc góp vốn là rất đa dạng. Tuy nhiên, để tài sản góp vốn trở thành phần vốn góp, thì những tài sản trên phải được định giá. Cụ thể, tại khoản 1 Điều 30 LDN quy định “Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá”. Từ những quy định trên cho thấy có sự phân biệt rõ ràng giữa phần vốn góptài sản góp vốn.

Tại khoản 5 Điều 4 LDN giải thích về phần vốn góp như sau: “Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ”. Theo các quy định của pháp luật, chủ sở hữu phần vốn góp (người góp vốn) có các quyền sau:

– Quyền tài chính: được phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp tương ứng với tỷ lệ giá trị phần vốn góp; gánh chịu phần lỗ tương ứng với tỷ lệ giá trị phần vốn góp nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, khi đang hoạt động cũng như khi doanh nghiệp kết thúc hoạt động; nhận phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp sau khi đã thanh toán hết các nghĩa vụ của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bị giải thể, phá sản.

– Quyền phi tài chính như quyền biểu quyết, quyền thông tin.

Ngoài ra, phần vốn góp với tư cách là một tài sản có giá trị tiền tệ nên chủ sở hữu được tự do chuyển giao trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, việc chuyển giao này bị hạn chế bởi một số quy định theo LDN nhằm bảo đảm sự hoạt động lành mạnh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Đọc tiếp

VƯỚNG MẮC TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

HẢI TOÀN

Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, hiện nay, số vụ việc thi hành án dân sự tồn đọng hiện nay là 298.622 việc với hơn 21.000 tỷ đồng, trong đó có điều kiện thi hành 124.835 việc, chưa có điều kiện thi hành 173.787 việc.

Thống kê cho thấy, số lượng việc hoãn thi hành chiếm một số lượng lớn (82.300 việc) trong đó hoãn do người phải thi hành án ốm nặng, hoặc chưa xác định được nơi cư trú hoặc vì lý do chính đáng khác không thể hiện thực hiện được nghĩa vụ là 24.754 việc; hoãn do người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn việc thi hành là 3.191 việc… Bên cạnh đó còn có các nguyên nhân như tạm đình chỉ thi hành án; tòa án tuyên không rõ, khó thi hành; tạm ngưng thi hành án để giải quyết khiếu nại… Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án Dân sự, Bộ Tư pháp Nguyễn Văn Luyện cho rằng, nguyên nhân chủ quan dẫn đến việc tồn đọng là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ thi hành án dân sự ở nhiều địa phương đối với nhiều vụ việc còn chưa tốt, đặc biệt là những vụ việc có điều kiện thi hành nhưng chưa được tổ chức thi hành hoặc tổ chức thi hành nhưng chưa có kết quả.

Ngoài những nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan cũng đóng một vai trò không nhỏ dẫn đến số lượng án tồn đọng hàng năm. Vì rằng, khác với nhiều lĩnh vực, thi hành án dân sự liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của nhiều đối tượng, trong đó phải kể đến ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án còn thấp, nhiều trường hợp người phải thi hành án chây ý, chống đối, cản trở việc thi hành án. Đặc biệt việc Tòa án tuyên không rõ, có sai sót, không có tính khả thi, cơ quan thi hành án đã đề nghị giải thích, đính chính hay xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhưng chậm được đáp ứng dẫn tới bản án, quyết định bị chậm thi hành hoặc không thể thi hành được. Ngoài ra, sự phối hợp giữa Tòa án và Cơ quan thi hành án trong việc chuyển giao bản án, quyết định hoặc các tài liệu có liên quan đến sử lý tang vật, tài sản chưa chặt chẽ, kịp thời nên có đến 76.476 việc chưa tổ chức thi hành được.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: NGHI TẨU TÁN TÀI SẢN NHƯNG KHÓ XỬ LÝ

NGUYỄN TIẾN HIỂU

Đương sự đã chuyển giao tài sản cho người thứ ba một cách… hợp pháp. Người được thi hành án chỉ biết khóc ròng vì bên phải thi hành án không còn tài sản.

Hiện nay, có một số bản án của tòa chưa kịp thi hành thì người phải thi hành án lại tiếp tục có những khoản nợ lớn khác. Hai bên lại ra tòa, thỏa thuận sẽ cấn tài sản để trả nợ… Người được thi hành án ở bản án trước nghi ngờ có sự giả tạo để tẩu tán tài sản nhưng cũng không làm gì được.

Vay người này, nhận nợ người khác

Tháng 5-2007, vợ chồng bà T. (Buôn Ma Thuột, Dăk Lăk) vay của ngân hàng 750 triệu đồng. Đến thời kỳ trả nợ nhưng không có tiền, bà T. đã phải vay của bà H. hơn 800 triệu đồng với lãi suất hơn 4 triệu đồng/ngày. Theo thỏa thuận, bà T. sẽ vay lại ngân hàng để trả lại tiền cho bà H. sau khi đã thanh toán khoản vay trước.

Sau một thời gian dài, bà T. vẫn không trả nợ. Biết vợ chồng bà T. có tài sản (nhà đất và xe ôtô) nên bà H. khởi kiện ra tòa. Nhưng cũng lúc này bà H. hay tin bà T. đã nợ một người khác gần 2 tỉ đồng rồi giao tài sản trên để cấn nợ. Giao dịch này cũng đã được tòa công nhận trong một quyết định hòa giải thành.

Thành thử khoản nợ mà bà H. cho bà T. vay đã trở nên khó đòi vì bà T. không còn có tài sản nào đáng giá.

Tương tự, bà M. ở quận 2 (TP.HCM) cũng khóc ròng vì chủ nợ thay vì bán nhà trả nợ cho mình lại đưa nhà đi cấn nợ cho người khác khiến bà không thể đòi được nợ.

Trước đó, TAND quận này đã tuyên buộc bà L. phải trả cho bà M. trên 700 triệu đồng. Hai bên đang làm thủ tục thi hành án thì bà L. đã viết giấy mượn nợ của một người thân rồi cấn căn nhà của mình cho chủ nợ sau. Bà M. chưa kịp làm thủ tục yêu cầu phong tỏa tài sản nên đành phải làm người… đến sau. Nhiều lần bà khiếu nại cho rằng đây là một vụ giả nhận nợ để tẩu tán tài sản nhưng không được chấp nhận vì không có chứng cứ.

Ly hôn rồi nhường hết tài sản

Tháng 4-2006, ông S. (tỉnh Kiên Giang) bán cho bà T. bảy lô đất nông nghiệp với giá hơn 300 triệu đồng. Hai bên đã làm hợp đồng mua bán, giao nhận tiền đầy đủ. Tuy nhiên, sau đó việc mua bán không thành nên đã kéo nhau ra tòa.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: THIẾU HƯỚNG DẪN, THI HÀNH ÁN LÚNG TÚNG

NGUYỄN TIẾN HIỂU

Tòa không chịu thụ lý việc xác định tài sản chung, riêng dù luật thi hành án có quy định.

Theo Luật Thi hành án dân sự (LTHADS), trong việc cưỡng chế liên quan tài sản chung, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện xác định phần sở hữu của họ thì người được thi hành án (THA) hoặc chấp hành viên có quyền yêu cầu tòa án xác định phần sở hữu của người phải THA trong khối tài sản chung để đảm bảo THA.

Được quyền kiện nhưng tòa không thụ lý

Mặc dù quy định đã rõ ràng như vậy nhưng cuối cùng THA cũng vướng khi phía tòa không chịu thụ lý việc xác định đâu là tài sản riêng trong khối tài sản chung của các đương sự.

Cụ thể như vụ của ông Nguyễn Văn H. ở quận Bình Thạnh (TP.HCM). Năm 2007, ông yêu cầu ông T. phải thi hành bản án trả nợ. Sau đó, ông phát hiện ông T. có một căn nhà ở quận 10 nên yêu cầu THA cưỡng chế, phát mại. Trớ trêu thay căn nhà trên là tài sản chung của ông T. với người chị. Cơ quan THA đã mời các bên liên quan đến để thỏa thuận phân chia tài sản nhưng chị ông T. không đến. Hai chủ sở hữu chung này cũng không thèm khởi kiện ra tòa để xác định phần tài sản riêng của mình.

Thấy bên kia không hợp tác, căn theo LTHADS, ông H. đã khởi kiện ra tòa yêu cầu xác định phần nhà riêng của ông T. Tuy nhiên, tòa án đã trả lại đơn vì cho rằng không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa.

Tòa lý giải, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Ông H. hay cơ quan THA khởi kiện là không được vì không phải đương sự trong vụ án mà chỉ là… người ngoài.

Trước tình hình đó, cơ quan THA đành phải xếp hồ sơ, báo cáo khó khăn, chờ hướng dẫn.

Đọc tiếp

NHỮNG BẤT CẬP TRONG THỰC THI LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

DƯƠNG VĂN THỊNH – Viện KSND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Sau 1 năm đi vào cuộc sống Luật thi hành án dân sự năm 2009 (Luật THADS năm 2009) đã góp phần không nhỏ trong công tác thi hành án dân sự. Tuy nhiên, từ thực tiễn của công tác này đã nảy sinh những bất cập cần có văn bản hướng dẫn cụ thể.

Kéo dài thời gian, chậm thi hành vì thiếu hướng dẫn

Điều 38 Luật THADS năm 2009 quy định: các quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp để thực hiện việc kiểm sát. Tuy nhiên, điều luật lại không quy định rõ trong thời hạn bao nhiêu ngày, kể từ khi ra các quyết định về thi hành án thì cơ quan thi hành án (Cục; Chi cục Thi hành án) phải gửi các quyết định đó cho VKS. Do vậy, có trường hợp sau một thời gian dài kể từ khi ra quyết định (hoặc đến khi giao được quyết định cho đương sự) thì cơ quan thi hành án mới gửi quyết định cho VKS để thụ lý và kiểm sát việc thi hành. Từ đó dẫn tới việc cập nhật của VKS không kịp thời, số liệu thống kê giữa các ngành không được chính xác (ví dụ ra quyết định tháng 10 nhưng đến tháng 12 mới gửi cho VKS do đó VKS phải báo cáo vào số liệu tháng 12 – thuộc năm thống kê khác). Hơn nữa, việc không quy định rõ thời gian gửi các quyết định dẫn đến tình trạng VKS cũng không có căn cứ để kiến nghị hoặc kháng nghị các quyết định về thi hành án của cơ quan thi hành án.

Ngoài ra, tại các Điều 30, 31 Luật THADS năm 2009, quy định về việc thi hành án theo đơn của người được thi hành án (hoặc người phải thi hành án) thì phải làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thi hành, đồng thời phải cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án. Tuy nhiên, do hiện nay chưa có mẫu đơn áp dụng thống nhất, nên mỗi nơi có một loại mẫu đơn khác nhau, hoặc người có yêu cầu tự viết tay và nộp cho cơ quan thi hành án. Trong cả 2 trường hợp này, việc hướng dẫn người được thi hành án viết đơn mất rất nhiều thời gian do điền không đúng, không đủ thông tin cần thiết hoặc không đạt yêu cầu về pháp lý. Do đó người được thi hành án phải làm đi làm lại nhiều lần, gây phiền hà, bức xúc dẫn đến khiếu kiện và hậu quả tất yếu là vụ việc chậm được xử lý, tồn đọng.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: KHÓ ĐẢM BẢO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA NGƯỜI THẮNG KIỆN

PHẠM DÂN

Những năm gần đây, tình trạng tranh chấp đất trong nội bộ nhân dân gia tăng. Ở một địa phương, theo thống kê chưa đầy đủ, trong tổng số vụ hòa giải không thành, các bên đương sự phải khởi kiện ra tòa án vì tranh chấp đất đai chiếm hơn 50% tổng số vụ tranh chấp dân sự. Điều đáng quan tâm là những vụ tranh chấp này thường diễn ra khá gay gắt từ phiên sơ thẩm, kháng cáo rồi đến phúc thẩm; án đã có hiệu lực pháp luật nhưng người bị tòa án bác yêu cầu vẫn không chịu thi hành, tiếp tục gửi đơn đề nghị xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm; hoặc quay trở lại khởi kiện theo thủ tục hành chính, làm cho tình hình trở nên phức tạp.

Khi giải quyết tranh chấp, tòa án chấp nhận yêu cầu đồng nghĩa với việc ghi nhận tính pháp lý về quyền sử dụng đất cho người thắng kiện và ngược lại. Thế nhưng, khi đất đã được giao, người thắng kiện không dễ gì thực hiện được các quyền của người sử dụng đất. Cụ thể là, khi tiến hành sửa chữa nhà cửa hoặc xây dựng công trình cơ bản thường gặp phải sự chống đối quyết liệt của người vừa thua kiện. Mặc dù vụ việc đã được tòa án xét xử bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, nhưng khi bên thua kiện có hành vi cản trở thì người thắng kiện phải khởi kiện một vụ án dân sự khác, với nội dung “yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật”. Tất nhiên, việc điều tra, xét xử vụ kiện này cũng dựa trên kết quả bản án, quyết định mà Tòa án đã xét xử trước đó, buộc đối tượng phải chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất. Những bản án này thường mang hình thức: điều tra, xét xử để đưa ra một bản án, nhưng thực chất chỉ để khẳng định lại một lần nữa tính hợp pháp của người có quyền sử dụng thửa đất đó. Bản án xét xử tranh chấp quyền sử dụng đất bác yêu cầu của bên nào thì bản án sau cũng sẽ buộc bên đó “chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”.

Tổ chức thi hành, cưỡng chế buộc “chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất” thực chất là áp dụng điều 119 luật Thi hành án dân sự về “cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định”. Tuy nhiên, gặp phải các trường hợp này, cơ quan thi hành án rất lúng túng, không biết tổ chức thi hành theo phương thức nào. Bản án tuyên “buộc chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”, nhưng khi nào buộc và buộc một người khi nào phải chấm dứthành vi cản trở? Những thuật ngữ pháp lý này khó xác định nội hàm, do đó đã làm nảy sinh một số vướng mắc, dễ bị lạm dụng hoặc thực hiện một cách tùy tiện.

Đọc tiếp

%d bloggers like this: