MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỜI GIAN TRIỆU TẬP ĐƯƠNG SỰ

VĂN LUẬN – TAND Quận Tân Phú, TPHCM

Đối với các tranh chấp về kinh doanh thương mại và lao động thì thời gian ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của đương sự, ví dụ: hai công ty tranh chấp về chất lượng của hàng hóa nên bên mua không đồng ý nhận hàng, vì vậy không cho bên bán nhập hàng vào kho của mình, buộc nên bán phải thuê kho để gửi hàng. Đối với số lượng hàng hóa lớn thì số tiền lưu kho là rất lớn và tăng lên từng ngày. Ngòai ra đối với một số hàng hóa thì nếu để lâu ngày có thể gây hư hỏng hoặc không sử dụng được.

Vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự nên tại điểm b khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sư 2005 qui định “Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án”. Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 qui định những tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 qui định những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tại khỏan 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 có quy định “ Đối với các vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khỏan 1 Điều này”. Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa của các tranh chấp quy định tại Điều 29 và Điều 31 Bộ luật này là 03 tháng.

Tuy nhiên khoản 3 Điều 154 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 qui định “Thời gian niêm yết công khai văn bản tố tụng là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết”.

Đọc tiếp

TÍNH CÔNG KHAI CỦA PHIÊN TÒA GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ

THS. MAI NGỌC DƯƠNG – Văn phòng Chính phủ

Nguyên tắc toà án xét xử công khai được quy định tại Điều 131 của Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể hoá trong Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002. Điều 7 của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 quy định: “Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ”.

Nguyên tắc này bảo đảm cho nhân dân giám sát được hoạt động xét xử của toà án, đồng thời tạo điều kiện cho toà án thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử . Tuy nhiên hiện nay, trong phiên toà giám đốc thẩm dân sự, nguyên tắc xét xử công khai chưa hoàn toàn được áp dụng, sự tham gia của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa còn hạn chế.

1. Thủ tục của phiên toà giám đốc thẩm không như một phiên toà

Phiên toà giám đốc thẩm dân sự là phiên toà do Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà dân sự (hoặc Toà kinh tế, Toà lao động) Toà án nhân dân tối cao và Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tiến hành để xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

Theo quy định tại Điều 295 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS), thì phiên toà giám đốc thẩm diễn ra theo thủ tục sau:

Đọc tiếp

KHỞI KIỆN ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VI PHẠM LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI TÒA ÁN

LÊ QUYẾT THẮNG – Trưởng ban Kiểm tra, BHXH Việt Nam

Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng hòa xă hội chủ nghĩa khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực từ 01/01/2007. Theo quy định của Luật BHXH, các hành vi vi phạm trong thực hiện chính sách BHXH đă rõ ràng, cụ thể tại Điều 134, Điều 135 gồm các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH, các hành vi vi phạm về thủ tục thực hiện BHXH như: không đóng, đóng không đúng thời gian quy định, đóng không đúng mức quy định, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH; cố tì́nh gây khó khăn hoặc cản trở việc hưởng các chế độ BHXH của người lao động …

Ngày 16/8/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH. Theo đó đă phân loại, quy định cụ thể mức phạt tiền tối đa đối với các hành vi trên là 20.000.000 đồng. Ngày 18/2/2008, Bộ Lao động-Thương binh và Xă hội, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đă có Thông tư liên tịch 03/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC-NHNN hướng dẫn thủ tục buộc trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp tiền BHXH chưa đóng, chậm đóng và tiền lăi phát sinh.

Như vậy, chế tài xử lý vi phạm pháp luật BHXH nói chung và về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH bắt buộc nói riêng đă tương đối đầy đủ nhưng với những quy định như hiện nay cho thấy: mức xử phạt vi phạm hành chính còn thấp, chưa đủ sức răn đe, tính khả thi của biện pháp buộc trích tiền nộp chậm và tiền lăi phát sinh không cao. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn tránh và nợ đọng BHXH tại các doanh nghiệp không có dấu hiệu giảm.

Đọc tiếp

CƠ CHẾ KHÁNG NGHỊ BẢN ÁN QUÁ THỜI HIỆU: CẦN HAY KHÔNG?

VƯƠNG THÀNH 

Giải quyết như thế nào đối với những trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng khi phát hiện sai sót thì đã quá thời hiệu để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm? Có người đề xuất nên giao cho Chánh án TAND Tối cao quyền kháng nghị đối với trường hợp bản án đã quá thời hiệu. Tuy nhiên, ý kiến khác lại cho rằng việc xét xử phải có “điểm dừng”, bởi nếu cứ phát hiện sai sót, lại đem ra xét xử, thì xử đến bao giờ. Theo quy định hiện hành thì quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao là “tối thượng”, không còn cấp xét xử nào cao hơn. Vấn đề đặt ra là nếu những quyết định này có sai sót thì giải quyết ra sao?

Còn sai thì còn phải sửa

Hiện tỉ lệ bản án, quyết định bị sửa còn chiếm 3% – 4%, bị huỷ chiếm 1%. Số lượng đơn đề nghị xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật chiếm trên 60%. Nhưng đáng lo ngại hơn cả là việc giải quyết đơn khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của các Toà án thời gian qua cho thấy đơn khiếu nại đúng chiếm tới 23%. Từ thông tin trên, cùng với đề xuất của ông Trương Hoà Bình – Chánh án TAND Tối cao – “nên có cơ chế kháng nghị bản án quá thời hiệu”. Luật sư Nguyễn Văn Chiến, nguyên Phó chủ nhiệm Đoàn luật sư Hà Nội cho rằng: việc đã giải quyết mà hết thời hiệu thì không còn giá trị để xem xét, đấy là theo lý luận từ xưa tới nay.

Đọc tiếp

CÔNG VĂN SỐ 38/KHXX CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HƯỚNG DẪN VIỆC PHÁP NHÂN KHỞI KIỆN VÀ ỦY QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
—–
Số: 38/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——-

Hà Nội, ngày 29 tháng 3 năm 2007

CÔNG VĂN

HƯỚNG DẪN VIỆC PHÁP NHÂN KHỞI KIỆN VÀ ỦY QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

Trong thời gian qua Tòa án nhân dân tối cao đã nhận được Công văn của một số Tòa án nhân dân địa phương và một số cơ quan, tổ chức kinh tế phản ánh còn có các cách hiểu khác nhau khi thực hiện hướng dẫn tại tiểu mục 1.4 mục 1 Phần I Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 02) đối với các trường hợp văn phòng đại diện hoặc chi nhánh của pháp nhân khởi kiện vụ án dân sự.

Để thực hiện đúng và thống nhất hướng dẫn tại tiểu mục 1.4 mục 1 Phần I của Nghị quyết số 02 trong trường hợp pháp nhân hoặc văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân khởi kiện vụ án dân sự (vụ án dân sự gọi chung), Tòa án nhân dân tối cao giải thích và hướng dẫn bổ sung một số điểm như sau:

1. Về người đại diện hợp pháp của pháp nhân

Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật dân sự và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự thì người đại diện hợp pháp của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.

Đọc tiếp

LẠM DỤNG GIÁM ĐỐC THẨM

HỒ KHẢI HÀ

image 1. Con dao hai lưỡi

Cách đây không lâu, Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh một vụ tranh chấp mua bán nhà tại quận Bình Thạnh (TP.HCM). Hai bên có hợp đồng mua bán hẳn hoi. Hợp đồng còn cho phép họ có quyền đổi ý và bị chế tài tương ứng. Sau đó, bên bán ngưng không bán nữa. Tranh chấp, vụ việc được chuyển qua tòa.

Án kéo dài lê thê vì kháng nghị

Quá trình xét xử, các cấp tòa có những quan điểm khác biệt. Một quan điểm cho rằng bên bán phải tiếp tục hợp đồng để bảo vệ quyền lợi cho bên mua. Quan điểm khác thì cho rằng theo hợp đồng, các bên có quyền đổi ý và tòa phải tôn trọng thỏa thuận đó.

Vì lấn cấn này mà vụ án phải qua hai lần xử phúc thẩm, hai lần bị kháng nghị giám đốc thẩm rồi hai lần cấp giám đốc thẩm, hủy án, yêu cầu xử sơ thẩm lại. Tòa cứ xử đi xử lại như thế suốt… 14 năm! Hiện vụ án quay trở lại từ đầu khiến các đương sự ngao ngán. Họ than thở, chỉ một tranh chấp đơn giản, án phải kéo dài ngoài sức tưởng tượng, gây biết bao khó khăn, tốn kém về thời gian, công sức, tiền bạc của cả họ lẫn các cấp tòa.

Đọc tiếp

LẠM DỤNG GIÁM ĐỐC THẨM

HỒ KHẢI HÀ

1. Phần 1:

Khi giải quyết án dân sự, việc kháng nghị, xét xử giám đốc thẩm nhiều lúc đã đẩy cơ quan chức năng và người dân vào thế dở khóc dở mếu!

Cách đây không lâu, Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh một vụ tranh chấp mua bán nhà tại quận Bình Thạnh (TP.HCM). Hai bên có hợp đồng mua bán hẳn hoi. Hợp đồng còn cho phép họ có quyền đổi ý và bị chế tài tương ứng. Sau đó, bên bán ngưng không bán nữa. Tranh chấp, vụ việc được chuyển qua tòa.

Án kéo dài lê thê vì kháng nghị

Quá trình xét xử, các cấp tòa có những quan điểm khác biệt. Một quan điểm cho rằng bên bán phải tiếp tục hợp đồng để bảo vệ quyền lợi cho bên mua. Quan điểm khác thì cho rằng theo hợp đồng, các bên có quyền đổi ý và tòa phải tôn trọng thỏa thuận đó.

Đọc tiếp

NGƯỜI TIÊU DÙNG KIỆN DOANH NGHIỆP NƯỚC TƯƠNG BỒI THƯỜNG 30 TỶ ĐỒNG

Anh Hà Hữu Tường, một cử nhân luật ở Q.Thủ Đức- TPHCM đã thay mặt hàng triệu người tiêu dùng, vừa chính thức khởi kiện các cơ sở nước tương “đen” và yêu cầu bồi thường 30 tỷ đồng!

Dù các DN đã có lời xin lỗi đến người tiêu dùng trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuy nhiên anh Hà Hữu Tường- cử nhân Luật, cán bộ thi hành án dân sự quận 8 cho rằng: Các bên liên quan đến sai phạm phải bị xử lý theo đúng luật định.

“Người dân đòi hỏi sự giải quyết triệt để, làm tiền đề cho tất cả những vụ việc tương tự nếu có xảy ra. Tôi nghĩ đây cũng là cách đấu tranh cho những doanh nghiệp (DN) làm ăn chân chính, xây dựng một nền kinh tế an toàn và phát triển thực sự do dân và vì dân” – Anh Tường nói.

Theo đơn khởi kiện, anh Tường yêu cầu các nhà sản xuất phải bồi thường thiệt hại 30 tỷ đồng đối với sức khỏe và tính mạng hàng triệu NTD đã sử dụng sản phẩm nước tương chứa 3-MCPD vượt tiêu chuẩn trong nhiều năm qua. Yêu cầu Nhà nước truy thu khoản thu nhập bất hợp pháp của các nhà sản xuất và có mức phạt cụ thể với những hành vi sai phạm đã gây ra.

Đọc tiếp

NGƯỜI TIÊU DÙNG KHỞI KIỆN NHÀ SẢN XUẤT NHƯ THẾ NÀO?

MINH ĐỨC – LÊ NGA

Liên quan đến vụ nước tương có chất độc 3-MCPD bày bán trên thị trường nhiều năm qua, mới đây ông Hà Hữu Tường, 28 tuổi, thường trú tại 982/9 tỉnh lộ 43, KP1, P.Bình Chiểu, Q.Thủ Đức, TP.HCM đã gửi đơn đến TAND TP.HCM khởi kiện các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất nước tương có chất 3-MCPD vượt quá tiêu chuẩn quy định và yêu cầu các đơn vị này bồi thường 30 tỉ đồng. Xung quanh đơn kiện này, Chánh án TAND TP.HCM Bùi Hoàng Danh cho biết:

TAND TP.HCM đã nhận được đơn khởi kiện và yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Hà Hữu Tường và chính tôi là người trực tiếp xem xét đơn. Qua xem xét, tôi thấy đơn khởi kiện của ông Tường còn chung chung quá và cần phải bổ sung nhiều điểm.

Đọc tiếp

KHỞI TỐ, KHỞI KIỆN VÌ LỢI ÍCH CHUNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

NGUYỄN VĂN TIẾN – GV Khoa luật Dân sự, Trường ĐH Luật TP. HCM

Khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung là một quy định quan trọng trong tố tụng dân sự. Đó là công cụ pháp lý cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà nước, công dân khi có vi phạm, tranh chấp mà không có ai khởi kiện. Theo quy định này, công dân do không có năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc có năng lực hành vi tố tụng dân sự nhưng vì một lý do nào đó mà họ không tự bảo vệ quyền lợi của chính mình được thì các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự sẽ tiến hành khởi tố, khởi kiện nhằm bảo vệ các quyền lợi đó của công dân. Ngoài mục đích bảo vệ quyền lợi của công dân, khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung cũng là phương thức bảo vệ các quyền và lợi ích trong lĩnh vực dân sự của nhà nước bị xâm hại. Khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung là một nội dung bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, là hình thức bảo hộ của nhà nước khi công dân có quyền, lợi ích hợp pháp bị vi phạm hay tranh chấp.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 885 other followers

%d bloggers like this: