HỘI NHẬP KINH TẾ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM

Kết quả hình ảnh cho International integrationDỰ ÁN MUTRAP III

Hơn hai thập kỷ hội nhập chính là động cơ chủ yếu cho phát triển kinh tế ở Việt Nam. Việt Nam vẫn đang tiếp tục quá trình hội nhập và thực hiện các sáng kiến hội nhập, bao gồm tự do hóa đa phương thương mại và đầu tư, đàm phán song phương, thực thi các cam kết WTO, đàm phán và thực thi các cam kết hội nhập ASEAN, đàm phán các FTA khác và đàm phán trong khuôn khổ WTO. Mặc dù trong hơn hai thập kỷ qua, hội nhập kinh tế đã mang lại những lợi ích đáng kể, nhưng Việt Nam vẫn cần hội nhập sâu hơn nếu muốn đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong thập kỷ tới. 

Việt Nam bắt đầu Đổi Mới vào giữa những thập kỷ 80 thông qua tự do hóa và hội nhập đa phương. Sự sụp đổ của Liên bang Sô Viết vào năm 1991 đã chấm dứt chế độ trao đổi hàng hóa và khuyến khích hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Vào giữa những năm 90, Việt Nam bắt đầu quá trình gia nhập WTO, đàm phán hiệp định thương mại với Liên minh châu Âu và gia nhập ASEAN. Sau khi đàm phán hiệp định thương mại với Mỹ năm 2001, Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2007. Quá trình thực thi các cam kết trong WTO đã được thực hiện trong cả 1 thập kỷ qua và một số cam kết trong đàm phán cũng sẽ được thực hiện trong vài năm tới. Ngoài việc tham gia vào hội nhập khu vực ASEAN, Việt Nam cũng tham gia các FTA ASEAN cộng với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, và Úc và New Zealand. Bên cạnh đó, đàm phán của ASEAN về FTA với Ấn độ cũng đang có những bước tích cực và đàm phán FTA với EU cũng đang được thực hiện.

Nói chung, tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam chịu ảnh hưởng tích cực của quá trình hội nhập. Thương mại và đầu tư ở Việt Nam đã phát triển từ cơ chế tương đối hạn chế sang cơ chế mở như hiện nay. Những kết quả đạt được về mặt kinh tế là rất ấn tượng:

• Tỷ trọng xuất khẩu (và nhập khẩu) trong nền kinh tế tăng gấp 10 lần từ 1988 đến 2008;

• Thu nhập đầu người tăng từ $130 vào đầu thập kỷ 90 lên   $800 vào 2008; và

• Tỷ lệ nghèo đói giảm đáng kể từ 58% năm 1993 xuống 13% năm 2008.

Đọc tiếp

KINH TẾ VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ LỰA CHỌN CHO THAY ĐỔI

Kết quả hình ảnh cho VIETNAM ECONOMY GS.TSKH. NGUYỄN QUANG THÁI & TS. BÙI TRINH

1. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam qua một số chỉ số vĩ mô

Tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2014 đạt khoảng 6%, đây là mức tăng trưởng tương đối cao so với các nước trong khu vực. Tuy nhiên, nhìn sâu hơn vào cấu trúc về sở hữu trong GDP giai đoạn này có thể thấy, đóng góp vào GDP của Việt Nam cơ bản là từ khu vực kinh tế cá thể, với tỷ lệ ổn định ở mức 32%; trong khi tỷ trọng kinh tế nhà nước giảm khoảng 4%, thì khu vực đầu tư 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lại tăng khoảng 4%. Cấu trúc về sở hữu cho thấy, nền kinh tế Việt Nam hầu như không có sự thay đổi lớn về cấu trúc; các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn không thể phát triển; tỷ trọng của khu vực sở hữu này trong GDP rất thấp, chiếm khoảng 8% và không thay đổi trong cả giai đoạn 2005 – 2014.

Bảng 1. GDP giá thực tế theo thành phần kinh tế                      Đơn vị: %

 

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Sơ bộ 2014

Tổng số

100

100

100

100

100

100

100

100

100

100

Kinh tế nhà nước

37,62

36,69

35,35

35,07

34,72

29,34

29,01

29,39

29,01

28,73

Kinh tế ngoài nhà nước

47,22

47,24

47,69

47,50

47,97

42,96

43,87

44,62

43,52

43,33

Kinh tế tập thể

6,65

6,39

6,10

5,91

5,80

3,99

3,98

4,00

4,03

4,04

Kinh tế tư nhân

8,51

8,98

9,69

10,23

10,46

6,90

7,34

7,97

7,78

7,79

Kinh tế cá thể

32

32

32

31

32

32

33

33

32

32

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

15,16

16,07

16,96

17,43

17,31

15,15

15,66

16,04

17,36

17,89

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm

..

..

..

..

..

12,55

11,46

9,95

10,11

10,05

Nguồn: TCTK

Đọc tiếp

MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Kết quả hình ảnh cho stock marketTSKH. NGUYỄN THÀNH LONG – Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước – Bộ Tài chính

1. Mối quan hệ phát triển giữa thị trường chứng khoán và nền kinh tế

1.1. Quan hệ phát triển giữa thị trường chứng khoán và nền kinh tế

Một số nhà kinh tế chứng minh sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) có tác động tích cực, là nhân tố ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển kinh tế. Nghiên cứu thực nghiệm trong giai đoạn 1860 – 1963 tại 35 quốc gia của Raymond W. Goldsmith cho thấy, thị trường tài chính phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Theo kết quả nghiên cứu của Greenwood và Smith (1996), TTCK phát triển giúp tiết giảm chi phí huy động vốn, nhờ đó khuyến khích đầu tư, đặc biệt vào các lĩnh vực công nghệ cao. Bencivenga, Smith va Starr (1996), Levine (1991) cho rằng, sự thanh khoản của TTCK là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế. Kyle (1984), Hollmstrom và Tirole (1995) chứng minh được rằng, TTCK có mức độ thanh khoản tốt còn khiến nhà đầu tư quan tâm hơn tới hoạt động của các công ty đại chúng, nhờ đó cải thiện chất lượng quản trị công ty, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các kết quả nghiên cứu đều có chung một nhận định là sự phát triển của thị trường tài chính có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của nền kinh tế và đây là mối quan hệ nhân quả trên nhiều phương diện. Đặc biệt, công trình của Robert G. King và Ross Levine từ nghiên cứu thực nghiệm tại hàng trăm quốc gia trong giai đoạn 1960 – 2000 được xem là có nhiều kết quả quan trọng. Thông qua các chỉ số tài chính về độ sâu, độ rộng và mức độ phát triển của thị trường tài chính, các nhà khoa học còn chỉ ra rằng, mức độ phát triển của thị trường tài chính còn là một chỉ báo tốt cho phép dự báo được mức độ tăng trưởng kinh tế từ 10 tới 30 năm sau. Robert G. King và Ross Levine sau đó mở rộng nghiên cứu này và đi đến kết luận rằng hệ thống tài chính càng phát triển thì càng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, do vậy, các chính sách nhằm phát triển thị trường tài chính có thể tác động tạo nền tảng để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng trong tương lai.

Tuy nhiên, cũng có một số nhà kinh tế chứng minh điều ngược lại. Chẳng hạn, Mayer (1988) cho rằng, những TTCK lớn nhất cũng không phải là nguồn tài trợ quan trọng cho doanh nghiệp. Stiglitz (1985, 1993) cho rằng, TTCK thanh khoản không phải là nhân tố góp phần hoàn thiện cơ chế quản trị công ty hay chế độ công bố thông tin. Theo Devereux và Smith (1994), việc chia sẻ rủi ro ở phạm vi toàn cầu trên thị trường vốn quốc tế có khi lại làm giảm tiết kiệm, cản trở sự phát triển của kinh tế. Shleifer và Summers (1988), Morck, Shleifer và Vishny (1990) cho rằng, sự phát triển của TTCK còn có thể làm ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế thông qua những ảnh hưởng tiêu cực nảy sinh từ các hoạt động thâu tóm, sáp nhập.

Đọc tiếp

VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Kết quả hình ảnh cho business subjects PGS.TS. NGUYỄN HỒNG NGA & TS. LÊ TUẤN LỘC – Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TPHCM

Nghiên cứu nhìn lại và đánh giá vai trò kinh tế của nhà nước tại Việt Nam trên cả góc độ lý thuyết và bình diện thực tế sau 30 năm đổi mới và phát triển kinh tế. Vai trò của Nhà nước được nhìn nhận dưới góc độ vi mô nhằm khắc phục những khuyết tật của thị trường là độc quyền, ngoại tác, hàng hóa công, thông tin bất cân xứng và hành vi bất hợp lý. Nhà nước đóng vai trò giảm thiểu các khuyết tật của thị trường, tái phân phối một phần của cải để đảm bảo công bằng, cân bằng, hiệu quả và sự tiến triển cho toàn xã hội.

Bài viết phân tích trên góc độ lý thuyết để nhìn lại nhà nước (mà chính phủ là đại diện) thực hiện những chức năng của mình thông qua việc tập trung khắc phục thất bại của thị trường.

Độc quyền

Theo Samuelson, độc quyền là hiện tượng chỉ có một nhà sản xuất trong ngành và không có ngành nào sản xuất ra mặt hàng thay thế gần gũi (6, trang 322).

Mankiw cho rằng, nguyên nhân cơ bản của độc quyền là các rào cản gia nhập (2, trang 337). Ông cũng cho rằng, các rào cản gia nhập đến lượt nó, lại phát sinh từ ba dạng chính sau đây:

(i) Độc quyền về nguồn lực: Một nguồn lực quan trọng cần thiết cho quá trình sản xuất được sở hữu của một doanh nghiệp duy nhất.

(ii) Các quy định của chính phủ: Chính phủ trao cho một doanh nghiệp duy nhất quyền sản xuất một vài hàng hoặc dịch vụ.

(iii) Quy trình sản xuất: Một doanh nghiệp có khả năng sản xuất hàng hóa với chi phí thấp hơn với các doanh nghiệp khác (hay còn gọi là độc quyền tự nhiên khi một doanh nghiệp duy nhất có thể cung ứng một mặt hàng hoặc dịch vụ cho toàn bộ thị trường với chi phí thấp hơn trường hợp có hai hoặc nhiều doanh nghiệp (3, trang 337
và 338).

Đọc tiếp

THIẾT CHẾ PHẢN BIỆN XàHỘI

Kết quả hình ảnh cho social feedbackTRÍCH DẪN TỪ TÀI LIỆU THAM KHẢO “VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI” CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC – VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

1. Xã hội dân sự với vai trò phản biện và vai trò trọng tài

Xã hội dân sự là một xã hội tự cân bằng. Chính sự tự cân bằng của xã hội đã tạo ra nhà nước và đặc biệt là tạo ra chức năng và nội dung của hoạt động nhà nước. Ở mỗi một thời đại, mỗi một thể chế chính trị hoặc mỗi một trình độ phát triển, nội dung của xã hội dân sự khác nhau. Gần đây, khi nói đến xã hội dân sự người ta vẫn nói đến các tổ chức độc lập với nhà nước, tức là các tổ chức phi chính phủ. Tôi có phát biểu tại Singapore trong một cuộc hội thảo rằng tôi không đồng ý với cách định nghĩa này, vì các tổ chức phi chính phủ chỉ là một biểu hiện của xã hội dân sự chứ không phải là toàn bộ xã hội dân sự. Nó là biểu hiện ở một trạng thái phát triển nào đó, ở một số quốc gia nào đó của xã hội dân sự chứ không phải là xã hội dân sự.

Xã hội dân sự là xã hội phi nhà nước. Xã hội dân sự tồn tại song song với nhà nước. Nó có các quy tắc văn hóa để hạn chế tất cả sự cực đoan, tất cả những hành vi không phù hợp với lợi ích công cộng. Trong đời sống dân sự hàng ngày con người ít cần đến nhà nước, con người có những tổ chức phi chính phủ để thể hiện những loại hình ý chí khác nhau của cộng đồng, họ thương thảo với nhau và tạo ra sự đồng thuận xã hội. Người Á Đông chúng ta không quen với xã hội dân sự cho nên định nghĩa về xã hội dân sự của chúng ta hiện nay vẫn không đúng. Xã hội dân sự mà chúng ta định nghĩa vẫn là cái gì đó có tính chất tôn trọng nhân dân nhưng lại không tôn trọng quyền tự cân bằng của xã hội. Ở một số quốc gia, nhà nước là tất cả, luôn luôn tồn tại nhà nước để giải quyết một loạt các vấn đề mà nhà nước cho rằng xã hội dân sự không làm được. Việc pháp luật không thừa nhận tình trạng không có nhà nước trong một loạt các khu vực khác nhau của đời sống làm cho nó mất đi những điều kiện tồn tại của xã hội dân sự.

Cần phải nhấn mạnh rằng, bản chất của xã hội dân sự là tính tự lập của xã hội, tức là xã hội phải giải quyết các vấn đề của nó. Nhà nước là một bộ phận của xã hội nhằm giải quyết những vấn đề có chất lượng chiến lược của đời sống chứ không phải là người giải quyết tất cả các vấn đề của đời sống. Xã hội dân sự là một xã hội tự quản lấy mình và đến một mức độ mà nó không có khả năng để tự quản nữa thì phần còn lại đó rơi vào nhà nước chuyên nghiệp. Hay nói cách khác, nhà nước chuyên nghiệp là bộ phận nối dài của xã hội dân sự để giải quyết những công việc mà bản thân xã hội không tự giải quyết được.

Đọc tiếp

LÝ THUYẾT CÔNG TY VÀ MỘT SỐ ỨNG DỤNG VÀO CẢI CÁCH HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Kết quả hình ảnh cho firm theoryTS. VÕ TRÍ HẢO – Khoa Luật, Đại học Kinh tế TPHCM

1. Từ quan niệm về nhà nước – công ty đến việc nghẫm lại chức năng hiến pháp

Công ty cổ phần và nhà nước là hai thực thể nhân tạo, do con người lập ra, quay lại phục vụ con người. Nếu nhà nước phong kiến, độc tài chỉ phục vụ lợi ích của một nhóm nhỏ, thì nhà nước của dân do dân vì dân có bổn phận phục vụ tất cả các thành viên trong xã hội. Tương tự như vậy công ty cổ phần là của cổ đông, do cổ đông, vì cổ đông. Thế nhưng tại sao hiệu quả quản trị trong các công ty cổ phần (tư nhân) thường cao, còn quản lý nhà nước thường được các văn kiện Đảng nhắc nhở là „còn yếu kém“; tại sao hiện tượng bội tín trong các công ty cổ phần không nhiều, nhưng hiện tượng tham nhũng trong các cơ quan nhà nước lại tràn lan đến mức Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xem là một trong ba nguy cơ của quốc gia; tại sao trong cùng nền văn hóa „duy tình“ của người Việt nhưng việc tuyển dụng con cha cháu ông lại diễn ra phổ biến trong các cơ quan nhà nước, trong khi tại các công ty cổ phần tư nhân thì không?

Từ những vấn đề này tác giả muốn phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa công ty cổ phần và nhà nước của dân do dân vì dân với hy vọng đưa những tinh túy của quản trị doanh nghiệp vào trong quản lý nhà nước.

1.1. Mục đích, Nguồn gốc quyền lực

Thủa hồng hoang, khi loài người mới hình thành, thì những tập tính của động vật còn rất rõ nét, chưa có trật tự như xã hội ngày nay: khi đó con người có quyền giết người khác – tựa như việc hai con bò húc nhau không phải xin phép ai – ;nhưng mình có người quyền giết người khác thì người khác cũng có quyền giết mình. Loài người thông minh đã nhanh chóng nhận ra rằng việc để cho từng cá nhân tiếp tục nắm giữ quyền giết người này thì sẽ rất nguy hại cho sự tồn tại của loài người. Nên họ đã cùng nhau thỏa thuận trao những quyền nguy hiểm như vậy cho một chủ thể trung gian hành xử. Chủ thể trung gian này chính là tiền thân của nhà nước.

Đọc tiếp

WTO ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ: VIỆT NAM DƯỚI CON MẮT CÁC THÀNH VIÊN WTO

  ĐỖ TUYẾT KHANH

Năm 2016 là dịp nhìn lại quá trình gần 10 năm hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam sau một bước ngoặt quan trọng: sau 20 năm chính sách Đổi mới được áp dụng từ 1986 và 11 năm đàm phán gay go, ngày 7.11 2006, các văn kiện cho phép Việt Nam gia nhập WTO đã được Đại hội đồng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thông qua. Theo quy định của WTO, các nước ứng viên chính thức trở thành thành viên của tổ chức 30 ngày sau khi Nghị định thư gia nhập (Accession Protocol) được cơ quan thẩm quyền trong nước phê chuẩn. Tuy thời hạn phê chuẩn được ấn định đến 30.7.2007, Việt Nam đã tiến hành ngay thủ tục này, đệ trình lên WTO nghị quyết phê chuẩn của Quốc hội ngày 11.12.2006 và chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức ngày 11.1.2007, đúng 12 năm sau khi đệđơn xin gia nhập, ngày 12.1.1995.

Mười năm tạm đủ để trả lời sơ khởi câu hỏi đã đặt ra cho Việt Nam lúc ấy như cho mọi nước ứng viên: vào WTO sẽ có những lợi hại gì, sẽ thay đổi ra sao? Mậu dịch có đúng là động lực phát triển kinh tế như phương châm quen thuộc của hệ thống thương mại đa phương? Để gia nhập WTO phải đồng ý một số thoả nhượng và cam kết, trong đó quan trọng hơn cả là cải cách những cơ chế và định chế để phù hợp với luật WTO và đòi hỏi của các thành viên. Đối với Việt Nam, tự khẳngđịnh là một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các đòi hỏi cải cách tất nhiên rất nhiều và đặt nặng vấn đề vai trò nhà nước trong kinh tế. Vào WTO là chấp nhận sự giám sát của các thành viên thông qua cơ chế xét duyệt chính sách thương mại (Trade Policy Review, gọi tắt là TPR). Tháng 11.2013, Việt Nam đã chịu sự xét duyệt TPR đầu tiên và những đánh giá, phê bình của các thành viên cũng phần nào trả lời câu hỏi nằm trong chủ đề của Hội thảo hè năm nay : để tiếp tục phát triển, Việt Nam cần cải cách những gì?

Theo quy định của WTO, lịch trình xét duyệt chính sách thương mại dựa trên tỷ trọng của mỗi thành viên trong mậu dịch thế giới : mỗi 2 năm cho 4 cường quốc thương mại đứng đầu bảng (hiện là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên hiệp châu Âu và Nhật Bản), mỗi 4 năm cho 16 nước được xếp hạng tiếp theo, và mỗi 6 năm cho các thành viên khác, các nước kém phát triển nhất có thể xin được thời hạn dài hơn. Năm 2013, Việt Nam được xếp hạng 34 cho xuất khẩu và 32 cho nhập khẩu, và với tư cách thành viên mới (Recently Acceded Member) có thể yêu cầu chưa tiến hành TPR vội. Vì thế việc Việt Nam đồng ý thực hiện TPR đầu tiên của mình năm 2013, 6 năm rưỡi sau khi gia nhập, được ghi nhận là sốt sắng, tích cực hội nhập và ủng hộ hệ thống thương mại đa phương.

Đọc tiếp

VIỆT NAM CẦN XÁC ĐỊNH RÕ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ

TÔN THẤT THÔNG

Nhà nước không nên can thiệp vào quá trình hoạt động kinh tế, cũng không nên thả lỏng cho nền kinh tế tự do hoạt động. Chính sách nhà nước để tạo ra một khung hoạt động: đồng ý; kế hoạch nhà nước để điều khiển quá trình hoạt động kinh tế: không! Nhận thức được đâu là sự khác nhau giữa khung hoạt động và quá trình hoạt động để ban hành chính sách, đấy là cốt lõi của vấn đề.

Giáo sư Walter Eucken, sáng lập viên Trường phái Freiburg

Tóm tắt:

Thể chế chính trị và vai trò của nhà nước trong chính sách kinh tế là hai bộ phận đóng vai trò quyết định cho sự phát triển kinh tế. Mặc dù việc thiết kế vai trò nhà nước chỉ là một phần trong toàn bộ chính sách kinh tế nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của chính sách đó.

Bài tham luận sau đây đứng trên góc nhìn của người nghiên cứu lịch sử kinh tế hậu chiến Tây Đức và cố gắng rút ra những bài học có ích lợi thực tiễn mà người Việt Nam có thể tham khảo.

Trước hết, chúng ta so sánh Tây Đức năm 1945 và Việt Nam năm 1975 cũng như đầu thế kỷ 21 để xem đâu là những lĩnh vực khác nhau liên quan đến chính sách mà Việt Nam cần tránh, và đâu là những nét giống nhau mà Việt Nam có thể dựa vào để tham khảo.

Sau đó chúng ta phân tích xem Tây Đức thiết kế vai trò nhà nước như thế nào? Từ xuất phát điểm nào mà Tây Đức thiết kế vai trò nhà nước của họ như chúng ta đang biết? Có phải nó đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế hậu chiến, đồng thới còn làm nền tảng cho vị trí của Đức đến đầu thế kỷ 21? Vai trò của nhà nước mà họ xác định thì nhiều nhưng tựu trung dựa trên hai nguyên tắc chủ đạo. Hai nguyên tắc đó là gì? Ai là tác giả đặt ra những nguyên tắc đó, từ lúc nào? Từ hai nguyên tắc đó, đâu là những vai trò nhiệm vụ trọng điểm của nhà nước trong kinh tế? Cuối cùng chúng ta so sánh (rất khái quát) vai trò nhà nước thời hậu chiến của ba nước Anh, Pháp và Đức. Tại sao và trong lĩnh vực nào họ thành công hoặc thất bại?

Đọc tiếp

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TS. NGUYỄN THANH TUẤN

Ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “quyền con người”, còn có thuật ngữ “nhân quyền”. Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ khái niệm “human rights” trong tiếng Anh. Vì vậy, nếu cho rằng, chỉ xã hội tư bản mới có nhân quyền còn xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ có quyền con người – là không xác đáng.

Cho đến nay ở nước ta nhược điểm chung của các định nghĩa về quyền con người là chưa chỉ ra tính thống nhất trong thuộc tính tự nhiên – xã hội của quyền của con người, và vai trò xã hội – cần phải được chỉ ra của công tác bảo đảm quyền con người. Cần lưu ý là trong định nghĩa về quyền con người không nên dừng ở việc xác định nhân phẩm chung chung, bởi thực tế pháp luật định vị cả nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có ở con người, để thông qua đó, dù là những cá nhân hay nhóm người yếu thế, với năng lực hạn chế, cũng luôn được bảo đảm quyền của mình một cách phù hợp thông qua pháp luật; và việc bảo đảm nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và cả năng lực vốn có của mỗi người và mỗi tập thể không tách rời việc bảo đảm quyền của dân tộc Việt Nam.

Vì thế, theo chúng tôi, một định nghĩa phù hợp với Việt Nam có thể là: Quyền con người là phẩm giá, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có ở con người, được pháp luật công nhận nhằm thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, (bảo đảm) thực hiện và thúc đẩy quyền sống, tự do, hạnh phúc của con người và dân tộc Việt Nam.

Mặc dù có những tương đồng nhất định về tính chất, đối tượng và phạm vi điều chỉnh, quyền con người và quyền công dân vẫn sẽ phát triển theo hai “kênh” khác nhau, mà sẽ không bao giờ hoàn toàn hòa nhập với nhau, khi xã hội loài người vẫn còn nhà nước và pháp luật. Thực tế này đòi hỏi cần tiếp tục xây dựng và củng cố các thể chế hợp tác, để cùng thúc đẩy và bảo đảm cả quyền con người và cả quyền công dân trên mọi cấp độ: cơ sở, địa phương, quốc gia, khu vực và quốc tế.

Đọc tiếp

ĐẠO ĐỨC KINH DOANH Ở VIỆT NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỄ – Trưởng phòng Triết học xã hội, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Việt Nam hiện nay vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển. Quá trình đổi mới của Việt Nam cũng chính là quá trình Việt Nam đang dần hoàn thiện cả về phương thức hoạt động của kinh tế thị trường, cả về thể chế xã hội dựa trên nền kinh tế đó. Vì thế, đạo đức kinh doanh ở Việt Nam đã và đang đặt ra những vấn đề cả trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn khác với những nước phát triển. Trên cơ sở luận giải những vấn đề này, tác giả rút ra kết luận: Để thực hiện đạo đức kinh doanh ở Việt Nam hiện nay thì việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và các văn bản dưới luật rõ ràng là cần thiết nhưng chưa đủ, mà phải đưa ra được những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức kinh doanh đủ sức để hướng dẫn những hành vi kinh doanh của các doanh nghiệp. Việc giáo dục phải làm thế nào để các doanh nghiệp tự ý thức được rằng, thực hiện đạo đức kinh doanh chính là đầu tư cho tương lai và cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Khi bàn về khái niệm đạo đức kinh doanh đã có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, đạo đức kinh doanh bao gồm những quy định và các tiêu chuẩn chỉ đạo hành vi trong thế giới kinh doanh, hoặc “đạo đức kinh doanh là hành vi đầu tư vào tương lai. Khi doanh nghiệp tạo tiếng tốt sẽ lôi kéo khách hàng. Và đạo đức xây dựng trên cơ sở khơi dậy nét đẹp tiềm ẩn trong mỗi con người luôn được thị trường ủng hộ”(1). Stoner và các đồng tác giả lại đưa ra định nghĩa: “Đạo đức kinh doanh là quan tâm tới kết quả ảnh hưởng mà mỗi quyết định điều hành – quản trị tác động lên người khác, cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Đó cũng là việc xem xét quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân, các nguyên tắc nhân văn cần tuân thủ trong quá trình ra quyết định và bản chất các mối quan hệ giữa con người với con người”. Còn mạng kinh doanh trực tuyến bnet.com thì định nghĩa: “Đạo đức kinh doanh là hệ thống các nguyên tắc luân lý được áp dụng trong thế giới thương mại, chỉ dẫn các hành vi được chấp nhận trong cả chiến lược và vận hành hàng ngày của tổ chức. Phương thức hoạt động có đạo đức ngày càng trở nên cần thiết trong tìm kiếm thành công và xây dựng hình ảnh tích cực của doanh nghiệp”(2). Giáo sư Phillip V.Lewis, sau khi đúc rút từ 185 định nghĩa khác nhau về đạo đức kinh doanh, đã đưa ra định nghĩa: “Đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực (của một tổ chức) trong những trường hợp nhất định”(3). Từ những nội dung trên có thể thấy, cách hiểu về khái niệm đạo đức kinh doanh trên cốt lõi cơ bản lúc đầu là hướng về tính nhân văn trong kinh doanh thì về sau, nó còn trở thành chính phương thức kinh doanh của doanh nghiệp, nếu muốn phát triển theo hướng thu được lợi nhuận một cách ổn định và bền vững. Ở đây, vai trò đạo đức kinh doanh đã được nhấn mạnh trong những trường hợp đưa ra những quyết định mở rộng hoặc thu hẹp kinh doanh của các chủ doanh nghiệp. Việc tuân thủ đạo đức kinh doanh sẽ đảm bảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trên con đường kiếm tìm ngày càng nhiều lợi nhuận cho mình.

Đọc tiếp

%d bloggers like this: