TIẾNG NÓI NHÀ VĂN: ÁN OAN

TÔN ÁI NHÂN

Những năm gần đây một số kỳ họp Quốc hội đã công khai đưa vấn đề án oan để chất vấn các vị Bộ trưởng ngành pháp luật một cách thẳng thắn, nghiêm túc đầy cởi mở và dân chủ để tránh những án oan, khổ đau cho người dân vô tội. Đây là việc làm đúng.

Quả thực, từ ngày thành lập nước đến nay ngành luật pháp đã có nhiều cố gắng, nhưng cũng không tránh khỏi oan sai. Xin đơn cử một số vụ điển hình:

Trước hết, phải bỏ qua các vụ án oan trong thời kỳ diệt tề trừ gian và Cải cách ruộng đất. Thời chống Pháp, nổi lên là vụ địch đã tung đòn phản gián tạo ra vụ H122 làm ta bắt oan hàng trăm người. Sau Bác Hồ chỉ thị đồng chí Trần Đăng Ninh trực tiếp đi sửa sai. Vụ Ngô Cường, Trưởng ty Công an Quảng Yên cũng tương tự, bị bắt oan khiến ông ta  phải tự minh oan bằng cách mổ bụng tự tử tới hai lần. Mãi sau này mới minh oan!

Hoà bình lập lại, ngành luật pháp đã phấn đấu cải tiến nhiều, nhưng án oan về chính trị và hình sự vẫn tiếp diễn. Vụ Võ An Khang ở Nhà máy gỗ Cầu Đuống nghi mâu thuẫn nội bộ giết nhau bắt oan một cấp phó, nhưng thực ra ông ta tự tử. Vụ giết chị Là ở Đông Triều khiến ba công dân lương thiện: Mạch, Chồi, Tương mỗi người phải tù oan tới 11 năm. Điều đáng nói là ba công dân này vào tù tháng nào cũng viết ba đơn kêu oan gửi tới ba cơ quan Công an, Tòa án và Viện khiểm sát. Đơn kêu oan suốt mười một năm lên tới hàng ngàn, khiến ông Hoàng Quốc Việt lúc đó làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thốt lên:“Nếu không bị oan thì liệu họ có kiên trì viết đơn nhiều đến thế” Và ông đã chỉ thị cho Công an khu Hồng Quảng điều tra lại. Cái đặc biệt của vụ án là đồng chí trực tiếp điều tra sai trước đây lại tình nguyện xin điều tra lại để tìm cái sai của chính mình. Kết quả vụ án là chồng giết vợ đã ra tự thú. Ba công dân bị oan được tha. Vụ này đã đưa vào giáo trình giảng dạy ở trường Công an.

Đọc tiếp

BÌNH LUẬN HƯƠNG ƯỚC THEO GIÁC ĐỘ LUẬT HỢP ĐỒNG

LS.THS. PHẠM QUANG HUY – Văn phòng Luật sư Hàn Sỹ Huy

1. Hương ước làng Việt

Làng là nơi dân cư ẩn mình đằng sau những lũy tre và truyền thống được lưu giữ từ đời này qua đời khác. Thêm vào đó, làng ở miền Bắc Việt Nam thuộc về khu vực lãnh thổ đã bị quân xâm lược phong kiến phương Bắc đô hộ suốt hơn một ngàn năm trước đây.([1]) Trong kết cấu xã hội Việt Nam, làng đóng vai trò to lớn, đặc biệt trong quá trình hình thành nhận thức của mỗi người dân. Làng không chỉ đơn thuần là một đơn vị hành chính mà còn là sự cố kết cộng đồng đậm đặc của người Việt. Làng Việt cổ truyền “trong chừng mực là tế bào của xã hội”.([2]) Trước đây, một thời làng, xã, thôn Việt Nam “sau khi được triều đình công nhận, mỗi xã thôn đều có tư cách pháp nhân và được coi như một tổ chức tự trị. Bởi vậy mỗi làng đều có một tên riêng, có công điền, công thổ và một cơ quan quản trị do người làng tự cắt đặt ra”.([3]) Vì lẽ là một tổ chức tự trị như vậy nên làng phải “đặt ra các khoán lệ để trừng phạt những người phạm đến quyền lợi chung của làng hoặc của cá nhân, lập ra hương ước để quy định hết thẩy tục lệ của làng cho mọi người biết mà tuân theo”.([4])

Nhà bác học Lê Quý Đôn, dẫn theo sách “Phù ông tạp kí” cho rằng âm tự “khoán ước” có từ thời Hán đến thời nhà Tống nhưng chỉ được coi là khế ước trong buôn bán.([5]) Học giả Đào Duy Anh định nghĩa “hương ước là quy luật trong làng”.([6]) Theo Lệnh ban bố của vua Lê Thánh Tông ngày 20 tháng Tư năm Hồng Đức thứ 7, Điều 6 quy định: “Nhất cấm dân tục thiết lập tư ước”.([7]) Như vậy có thể thấy rằng, vào thời điểm trước năm 1471, tại cộng đồng làng xã Việt Nam đã tồn tại nhiều hình thức khác nhau của hương ước. Cũng trong Lệnh này, Vua Lê Thánh Tông viết: “Nếu làng xã nào có những tục khác lạ lập ra khoán ước và cấm lệ, ắt phải nhờ viên chức nho giả, người nào đứng tuổi, có đức hạnh ngay thẳng, mới có thể tuân hành. Khi đã lập ra khoán lệ rồi, phải trình lên quan chức, các nha môn xem xét rõ các điều lệ nên theo, sẽ phê chuẩn thừa hành. Nếu thấy trong khoán ước có điều thiên tư gian tà thì phê chữ “bác”, để cho khỏi sinh những gian mưu. Nếu người nào không dự vào việc lập ước ấy mà tụ họp riêng thì cho phép xã quan tố cáo lên nha môn để trị tội, để bỏ tệ tục, lấp hẳn sự cường hào tiếm đoạt. Các nhà chức trách không thể dung thứ”.([8])

Đọc tiếp

BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ THÔNG QUA CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN

PGS.TS. NGUYỄN QUỐC SỬU – Học viện Hành chính Quốc gia

 
BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
Điều 1. Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền

1. Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân.

Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài.

Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định. Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án.

2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng.

Điều 2. Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền

Khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền dân sự, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

Trường hợp quyết định cá biệt bị hủy thì quyền dân sự bị xâm phạm được khôi phục và có thể được bảo vệ bằng các phương thức quy định tại Điều 11 của Bộ luật này.

CIVILLAWINFOR – Cập nhật

Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong bảo vệ quyền dân sự là một trong mười vấn đề trọng tâm cần lấy ý kiến nhân dân theo Quyết định số 01/QĐ-TTg ngày 02-01-2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi).

Nội dung trên được quy định trong Dự thảo lần 4, tại “Điều 19. Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền”. Tiền đề của quy định này là Điều 9 trong Bộ luật Dân sự năm 2005; song quy định tại đó có tính nguyên tắc không đặt ra trách nhiệm cụ thể của cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp quyền dân sự của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm, bị tranh chấp.

Một yếu tố khác, Khoản 2 Điều 19 Dự thảo lần 4 quy định tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có luật quy định. Trong trường hợp này, tập quán, áp dụng tương tự pháp luật, án lệ và lẽ công bằng là các phương thức được dùng để giải quyết. Một quy định mới luôn kèm theo những phản hồi mới, từ đối tượng điều chỉnh lẫn những người thi hành pháp luật.

Đọc tiếp

BÀN VỀ HÀNH VI PHÁP LUẬT VÀ HÀNH VI ĐẠO ĐỨC

 TS. NGUYỄN VĂN NĂM – Khoa Hành chính – Nhà nước, Đại học Luật Hà Nội

1. Hành vi của con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như tâm lí học, xã hội học, luật học… Là hình thức biểu hiện của ý thức con người ra ngoài thế giới khách quan, hành vi là xử sự của con người trong hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, “được biểu hiện ra ngoài bằng những lời nói, cử chỉ nhất định hoặc bằng sự thiếu vắng những lời nói, cử chỉ nhất định”. (1) Theo cách hiểu này, hành vi có hai hình thức biểu hiện là hành động hoặc không hành động và khi nói đến hành vi của con người là bao gồm cả hành vi có ý thức và hành vi vô thức.(2)

Trong đời sống xã hội, các cá nhân có hoàn cảnh, điều kiện sống khác nhau với những nhu cầu, lợi ích khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu, lợi ích của mình, mỗi chủ thể có những phương pháp, cách thức riêng. Trong cùng điều kiện, hoàn cảnh, các chủ thể khác nhau sẽ có thể có những cách xử sự khác nhau. Thực tế cho thấy có những hành vi vừa đáp ứng nhu cầu, mục đích của chủ thể đồng thời cũng phù hợp với lợi ích của người khác cũng như toàn thể cộng đồng. Ngược lại, có những hành vi chỉ thoả mãn nhu cầu của chủ thể nhất định nhưng lại xâm phạm tới lợi ích của người khác, xâm phạm tới lợi ích chung của cộng đồng, đi ngược với mong muốn chung của xã hội. Điều đó làm cho đời sống xã hội mất đi sự ổn định, trật tự, thậm chí trở nên hỗn loạn.

Sự phân tích trên đây cho thấy trong đời sống cộng đồng, để bảo đảm một cách hài hoà các lợi ích thì hành vi của con người cần phải được điều chỉnh. “Điều chỉnh” theo nghĩa của từ là sửa đổi, sắp xếp lại ít nhiều cho đúng hơn, cân đối hơn, phù hợp hơn. (3) Như vậy, điều chỉnh hành vi con người là hướng dẫn cách xử sự cho chủ thể, làm thay đổi hành vi của họ, làm giảm thiểu những hành vi tiêu cực, tăng cường những hành vi tích cực, làm cho nó trở nên phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của xã hội. Khi đó, các chủ thể không thể xử sự theo ý chí chủ quan của mình mà phải thực hiện theo những quy tắc nhất định của xã hội. Bằng các phương tiện điều chỉnh, xã hội xác định cho các cá nhân, tổ chức những hành vi được thực hiện, không được thực hiện, phải thực hiện… trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định. Có nhiều phương tiện để điều chỉnh hành vi của con người như đạo đức, pháp luật, phong tục, tập quán, tín điều tôn giáo, quy định của các cộng đồng dân cư, các tổ chức xã hội… (gọi chung là các quy phạm xã hội), trong đó, đạo đức và pháp luật là những công cụ điều chỉnh quan trọng nhất. Hành vi cụ thể có thể chịu sự tác động bởi một hoặc nhiều quy phạm xã hội khác nhau. Khi xác định hành vi cụ thể nào đó là hành vi pháp luật, hành vi đạo đức hay hành vi tôn giáo… cần phải dựa vào đặc điểm, tính chất của loại quy phạm xã hội điều chỉnh chúng.

Đọc tiếp

KHÁI NIỆM VỀ HỘI TRONG PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP VÀ GÓP Ý HOÀN THIỆN KHÁI NIỆM VỀ HỘI CỦA VIỆT NAM

TS. NGUYỄN VĂN QUÂN – Học viện Khoa học xã hội

HIẾN PHÁP NĂM 2013:

“Điều 25 

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015:

“Điều 2. Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

2. Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

“Điều 74. Pháp nhân

2. Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.”

“Điều 76. Pháp nhân phi thương mại

1. Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên.

2. Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác.

3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

“Điều 82. Thành lập, đăng ký pháp nhân

1. Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Đăng ký pháp nhân bao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi và đăng ký khác theo quy định của pháp luật.

3. Việc đăng ký pháp nhân phải được công bố công khai.”
“Điều 101. Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.”.

CIVILLAWINFOR (Cập nhật, không có mục đích phản biện tác giả)

Việc tìm hiểu, nghiên cứu về tự do hiệp hội ở các quốc gia khác là nhằm góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật về tự do hiệp hội phù hợp với yêu cầu thực tế và các chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã cam kết. Pháp là một trong những quốc gia có luật về hội sớm nhất (1901) và có sinh hoạt hội đoàn sôi động, với hơn 1,3 triệu hội đang hoạt động, ngân sách hoạt động 70 tỉ euros. Bài viết giới thiệu về khái niệm hội theo pháp luật của Pháp, từ đó đưa ra một số đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật về hội của Việt Nam.

1. Khuôn khổ pháp lý của quyền về hội tại Pháp

1.1 Tự do về hội trong luật của Pháp

Hiến pháp hiện hành của Pháp không có điều khoản về lập hội. Tuyên ngôn nhân quyền 1789 cũng không nhắc tới, nhưng quyền lập hội được xem như một nguyên tắc căn bản có giá trị hiến định thông qua các phán quyết của Tham chính viện (Conseil d’Etat) và Hội đồng bảo hiến (Conseil constitutionnel).

Đọc tiếp

MẤY CÂU HỎI GỬI CÁC ĐẠI BIỂU ỦNG HỘ LẬP “KHU NHẠY CẢM”

NGUYỄN ANH ĐỨC – Sinh viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước luồng quan điểm ủng hộ có khá nhiều “ý” được đưa ra trong khi những quan điểm phản bác chỉ xoay quanh yếu tố đạo đức, thuần phong mĩ tục (vốn không thể thuyết phục). Tôi xin nêu ra một số quan điểm phân tích từ khía cạnh pháp lý như sau [1]:

– Thứ nhất, nếu nói rằng: "Ở ta không muốn công nhận, không thích công nhận nhưng thực tế lan tràn khắp nơi và bất lực không thể ngăn chặn được, hiện trạng ngày càng tăng". Với cách lập luận như vậy, chúng ta buộc phải liên tưởng đến những “thực trạng xã hội đang lan tràn khắp nơi” và “thuộc về bản chất của xã hội” như ma túy, buôn lậu, giết người, tham nhũng – lãng phí, chạy chức quyền, nhẹ hơn là học gạo – học vì điểm, cũng đang hoành hành và chưa có biện pháp giải quyết phù hợp ở Việt Nam. Điều đó, theo cách suy nghĩ của các đại biểu ủng hộ lập khu nhạy cảm, thì cũng nên và cần phải lập những “khu” riêng dành cho các hoạt động đã nêu trên. Lúc đó ta sẽ có phố buôn lậu, phố làm hàng giả – nhái, phố dành riêng cho các cán bộ tham nhũng, nhận hối lộ,…..Đây là áp dụng nguyên tắc bình đẳng cho “các hiện tượng xã hội thực tế”.

– Thứ hai, cho rằng: "Những người trực tiếp hành nghề không được bảo vệ, bị các ma cô, đầu gấu bắt nạt, ức hiếp, không được bảo vệ sức khoẻ từ đó ảnh hưởng sức khoẻ cộng đồng vì không có giám sát". Ở đây cần đặt ra câu hỏi: Sau khi lập khu thì những người được gọi là “ma cô”, “đầu gấu” sẽ trở thành thất nghiệp được chăng?, "hợp pháp" – một ngôn từ mĩ miều được dùng để dành cho lợi ích của các cô gái hay cho "ma cô, đầu gấu" thành "nhân viên kinh doanh"? Và bảo vệ sức khỏe của các cô gái hành nghề sẽ được thực hiện đến đâu, khi xét về mặt sinh lý, đã qua hết cái thời “đỉnh cao phong độ” lúc mới còn ở tuổi “ba mươi mấy”. Điều chắc chắn là ngành nghề nào cũng có “hạn sử dụng”, và có thể lập luận rằng sau khi nghỉ lao động thì phải được hưởng các trợ cấp xã hội, như bảo hiểm chẳng hạn. Nhưng câu chuyện sẽ khác giữa những lao động cống hiến đến năm 55, 60 tuổi với những lao động chỉ có thể cống hiến (bằng nghề chính) đến những năm ở tuổi đời chưa tròn bốn mươi chứ?

Đọc tiếp

KINH NGHIỆM HẬU CHIẾN CHO VIỆT NAM: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CỦA TÂY ĐỨC SAU NĂM 1945

 TÔN THẤT THÔNG – CHLB ĐỨC

Tây Đức năm 1945 và Việt Nam năm 1975 khác biệt rất lớn trên nhiều mặt, nhưng đồng thời cũng có những điểm tương đồng mà người làm chính sách có thể căn cứ vào đó để tham khảo kinh nghiệm và vận dụng cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Tham luận này không đưa ra những đề nghị cụ thể, mà chỉ trình bày một cách tổng quát lịch sử phát triển Tây Đức trong 10 năm hậu chiến từ 1945-1955. Có ba vấn đề lý thú mà chúng ta có thể nghiên cứu thêm: 1) chính sách kinh tế hậu chiến, 2) chính sách dùng người với tinh thần hòa giải dân tộc, 3) chọn thế đứng chính trị và phương pháp đấu tranh. Trong giới hạn cho phép, phần trình bày sau đây đặt trọng điểm vào kinh tế hậu chiến. Đấy là chính sách Kinh tế Thị trường Xã hội. Trước hết chúng ta đi tìm nguồn gốc của lý thuyết Tự do trong Trật tự được trường phái Freiburg khai phá, sau đó tóm tắt những luận đề cơ bản của của chính sách kinh tế lấy lý thuyết đó làm nền tảng. Khi chiến tranh chấm dứt, Alfred Müller-Armack đã dựa vào nền tảng lý thuyết đó, bổ sung thêm bằng những nhân tố xã hội và phác hoạ khung trật tự kinh tế cũng như một loạt chính sách kinh tế xã hội cho chính phủ Cộng hòa Liên bang (CHLB) Đức. Sự thành công của CHLB Đức cho đến hôm nay gắn liền mật thiết với chính sách Kinh tế Thị trường Xã hội với bốn khuôn mặt tiêu biểu: lý thuyết gia kinh tế Walter Eucken, luật gia Franz Böhm, chiến lược gia kinh tế Alfred Müller-Armack và chính trị gia có viễn kiến Ludwig Erhard. * Tham luận trình bày tại Hội thảo Berlin tháng 7 năm 2015 thời đại mới TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN Số 34 tháng 11, 2015 Tôn Thất Thông | Chính sách phát triển Tây Đức 2 Thời Đại Mới | Tháng11, 2015 Sau cùng chúng ta sẽ duyệt lại những sự kiện kinh tế quan trọng trong những năm hậu chiến đầu tiên và thử phân tích xem đâu là yếu tố quan trọng đã đưa kinh tế nước Đức vượt qua cả những nước đồng minh thắng trận chiếm đóng.

***

Không ít người cho rằng lấy kinh nghiệm Tây Đức để áp dụng cho Việt Nam là một việc làm ảo tưởng vì sự khác nhau và chênh lệch về mọi mặt giữa hai nước quá lớn. Tuy thế có hai khía cạnh đáng chú ý:

Đọc tiếp

TRUNG QUỐC VÀ HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI ĐA PHƯƠNG –LỢI THẾ VÀ XUNG ĐỘT

ĐỖ TUYẾT KHANH

Sức mạnh kinh tế khổng lồ của Trung Quốc ngày nay hiển nhiên và cũng hiển nhiên không kém là Trung Quốc đã xây dựng được thế lực ấy nhờ thương mại, đặc biệt từ sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cuối năm 2001. Trong 12 năm qua, Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng ngay cả lúc kinh tế thế giới suy thoái, lần lượt qua mặt các cường quốc thương mại truyền thống như Nhật Bản và Đức, và nhất là mỗi lúc một nhanh hơn các tiên đoán.

Năm 2001, Trung Quốc là nền kinh tế thứ 6 trên thế giới, đồng hạng với Ý. Chỉ tám năm sau, năm 2009, Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới và chiếm hạng nhì về nhập khẩu. Năm 2012, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu non 3 870 tỉ đô la Mỹ (USD), Trung Quốc đứng hạng nhì nhưng chỉ thua 10 tỉ so với con số 3 880 tỉ USD của Mỹ. Tháng 3 năm nay, thống kê sơ khởi của WTO xác định tuyên bố của Trung Quốc là đã vượt qua Mỹ để trở thành cường quốc thương mại hàng đầu, với 4 160 tỉ USD xuất nhập khẩu trong năm 2013, trong đó xuất khẩu đạt 2 210 tỉ USD và nhập khẩu 1 950 tỉ USD. Ấn tượng hơn cả, ngày 1 tháng 5 vừa qua, Ngân hàng Thế giới dự đoán trên cơ sở ngang giá sức mua (purchasing power parity –PPP) Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới ngay trong năm nay, chứ không phải từ đây đến 2020 như theo các dự phóng trước đây, hạ bệ Mỹ khỏi vị trí độc tôn đã chiếm ngự trong gần 140 năm, từ 1872. Tất nhiên, tính theo GDP, Trung Quốc đứng hạng nhì (nếu không tính Liên hiệp châu Âu như một khối) nhưng còn rất xa Mỹ : theo thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho năm 2014, GDP của Trung Quốc (9 761 tỉ USD) chỉ hơn một nửa GDP của Mỹ (17 438 tỉ USD). So sánh GDP trên đầu người theo thống kê của IMF cho năm 2013, khoảng cách giữa Trung Quốc (6 747 USD) và Mỹ (53 101 USD) càng xa vời hơn nữa. Song, với đà phát triển như cho tới nay, viễn tượng Trung Quốc đứng đầu toàn thế giới về kinh tế ngày càng gần với hiện thực.

Đọc tiếp

VIỆT NAM 40 NĂM QUA VÀ NHỮNG NĂM TỚI: CẦN MỘT NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

TRẦN VĂN THỌ

Đổi mới đã đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy nghèo và trở thành nước có thu nhập trung bình thấp. Nhưng so với tiềm năng, kể cả những thời cơ thuận lợi bị bỏ lỡ và so với kinh nghiệm của các nước Đông Á thì tốc độ phát triển của Việt Nam thấp và kém hiệu suất. Ngoài ra nền kinh tế hiện nay có những yếu kém như sức cạnh tranh của nền công nghiệp yếu, mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa còn rất xa, ngày càng dựa vào FDI và phụ thuộc nhiều vào kinh tế Trung Quốc.

Các nước Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã phát triển nhanh đưa nền kinh tế lên giai đoạn cao trong thời gian ngắn là nhờ khát vọng của lãnh đạo, của quan chức muốn đưa đất nước theo kịp các nước tiên tiến, từ đó chủ nghĩa phát triển và tinh thần dân tộc được đề cao, người tài được trọng dụng, tinh thần doanh nghiệp được phát huy. Doanh nghiệp tư nhân là động lực đưa nền kinh tế phát triển.

Hiện nay Việt nam trực diện ba thách thức lớn. Thứ nhất là nguy cơ chưa giàu đã già. Cơ cấu dân số vàng sắp qua đi, giai đoạn lão hóa dân số sẽ đến gần kề mà thu nhập đầu người còn rất thấp. Thứ hai là nguy cơ có sự phân hóa nền kinh tế thành hai khu vực FDI và tư bản trong nước vì ngày càng phụ thuộc vào FDI nhưng khu vực nầy ít bám rễ vào nền kinh tế quốc dân. Thứ ba là nguy cơ mắc vào bẫy thu nhập trung bình thấp (bẫy thu nhập trung bình đến sớm khi thu nhập đầu người còn thấp) vì tham nhũng và sự thao túng của các nhóm lợi ích làm méo mó thị trường vốn, thị trường đất, v.v… đưa đến sự phân bổ và sử dụng kém hiệu suất của các nguồn lực.

Kết quả phân tích ở trên đã gợi nhiều ý khi bàn về phương châm, chiến lược, chính sách cần thiết trong tương lai trung và dài hạn của Việt Nam. Theo tôi, xuất phát quan trọng nhất, có tính cách quyết định là khát vọng, khí khái của những người lãnh đạo trong giai đoạn sắp tới. Nếu lãnh đạo có lòng tự hào dân tộc, quyết đưa Việt Nam từng bước trở thành quốc gia thượng đẳng, xứng đáng với lịch sử, văn hóa và quy mô dân số sẽ bức xúc với thực trạng đang xuất khẩu lao động, đang tiếp tục nhận viện trợ, bức xúc với sự yếu kém của tư bản dân tộc và phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc. Giải phóng ra khỏi những ý thức hệ giáo điều và đề cao chủ nghĩa phát triển sẽ có những quyết sách, chiến lược phát triển đúng đắn.

Mũi đột phá trước mắt là làm cuộc cách mạng hành chánh mà nội dung chính là tinh giản bộ máy, quy củ hóa việc đề bạt, đánh giá cán bộ, cải cách tiền lương, và thi tuyển quan chức. Tránh được bẫy thu nhập trung bình thấp, phát huy tinh thần doanh nghiệp để hình thành tư bản dân tộc, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, mở đầu kỷ nguyên phát triển nhanh và bền vững đều tùy thuộc sự thành công của cuộc cách mạng hành chánh này.

ĐỌC TOÀN VĂN BÀI VIẾT TẠI ĐÂY

SOURCE: TẠP CHÍ THỜI ĐẠI SỐ 33, THÁNG 7/3015

LUẬN GIẢI VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

HUỲNH THẾ DU – giảng viên tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và hiện đang nghiên cứu sau tiến sỹ về chính sách công và phát triển đô thị tại Đại học Harvard

Bài này được viết khi tác giả đang nghiên cứu sau tiến sỹ về chính sách công và phát triển đô thị tại Đại học Harvard. Tuy nhiên, bài viết không thuộc bất kỳ dự án hay được tài trợ bởi tổ chức hay cá nhân nào (kể cả Đại học Harvard và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright nơi tác giả vẫn đang trong biên chế). Ý tưởng viết bài này được hình thành một cách tình cờ sau khi tác giả trao đổi với GS. Nguyễn Quang Thái về một số vấn đề liên quan. Bài viết hoàn toàn thể hiện quan điểm riêng của tác giả với mục tiêu duy nhất là đóng góp vào những thảo luận đến đường hướng phát triển cho Việt Nam hiện nay.

Để có thể hoàn thành bài viết, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người. Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn GS. Nguyễn Quang Thái với những trao đổi để tôi có thể hình thành bài viết cũng như việc cung cấp một số tài liệu và đọc các bản thảo với những nhận xét và góp ý vừa bao quát, vừa rất cụ thể. Tôi xin chân thành cảm ơn GS. Trần Hữu Dũng với những góp ý và bình luận hết sức thẳng thắn và xác đáng cho những nội dung cốt lõi của bài viết qua những bản thảo khác nhau. Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Trần Ngọc Anh, TS. Vũ Thành Tự Anh, bà Phạm Chi Lan, PGS. Phạm Duy Nghĩa, ông Trần Đức Nguyên, ông Nguyễn Vạn Phú, ông Nguyễn Xuân Thành, GS. Trần Văn Thọ và một số người khác đã đọc và có những nhận xét, bình luận và góp ý hết sức quý báu cho bài viết. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bà Phạm Chi Lan đã chuyển bản thảo đến một số người đọc và góp ý giúp tôi. Tôi xin cảm ơn ông Phạm Vũ Lửa Hạ đã giúp tôi tìm hiểu một số thuật ngữ liên quan.

Tất cả những người đã đọc các bản thảo và góp ý cho tôi đều là những chuyên gia hàng đầu trong những lĩnh vực liên quan đến các nội dung chính của bài viết. Do vậy, tôi đã có được những nhận xét, bình luận và góp ý hết sức sâu sắc từ bao quát đến cụ thể. Có những góp ý đơn giản chỉ là điều chỉnh hay thay đổi một vài câu chữ, nhưng đã làm cho các nội dung cốt lõi của bài viết nổi lên rõ ràng hơn rất nhiều. Điều này chỉ có thể đến từ những người thực sự am hiểu vấn đề. So với bản thảo đầu tiên, phiên bản này đã được bổ sung và phát triển thêm rất nhiều. Tuy nhiên, đây là một vấn lớn và liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng các nguồn lực  và khả năng của tác giả có hạn nên bài viết không thể phân tích hay lý giải tất cả các vấn đề được nêu ra một cách thấu đáo. Thêm vào đó, những điểm yếu, những sai sót là không thể tránh khỏi và lỗi này hoàn toàn thuộc về tác giả. Cuối cùng, bài viết chỉ là một phân tích, một tiếp cận của tác giả về một số khía cạnh trong chủ đề quan trọng này. Tác giả sẽ tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu thêm về những vấn đề liên quan trong khả năng và nguồn lực của mình. Với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình để cùng tất cả mọi người chung tay làm rõ con đường phát triển của Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, tác giả rất mong nhận được những góp ý, bình luận và trao đổi của những người quan tâm đến vấn đề này nói riêng, vì sự phát triển và thịnh vượng của Việt Nam nói chung.

Cambridge Tháng 11, 2013

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 883 other followers

%d bloggers like this: