SỬ DỤNG CHỨNG CỨ GIÁN TIẾP TRONG ĐIỀU TRA CẠNH TRANH – BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT VỤ VIỆC ĐIỀU TRA HÀNH VI THỎA THUẬN TẠI NHẬT BẢN

Kết quả hình ảnh cho Antitrust LawPHÙNG VĂN THÀNH – Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương

Luật Chống độc quyền của Nhật Bản[1] được ban hành vào năm 1947. Luật này có mục đích giống như hầu hết pháp luật cạnh tranh của các nước khác trên thế giới là bảo vệ cạnh tranh, tạo hiệu quả kinh doanh, việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, bảo vệ người tiêu dùng.

Luật Chống độc quyền Nhật Bản quy định không doanh nhân nào được tham gia vào những thỏa thuận hay hợp đồng với những nội dung tạo ra hạn chế thương mại bất hợp lý hay các hoạt động thương mại không bình đẳng (Khoản 1, Điều 6). Hạn chế thương mại bất hợp lý được hiểu là những hành vi kinh doanh, thực hiện bởi bất kỳ một chủ thể kinh doanh nào, thông qua hợp đồng, thoả thuận hay bằng bất kỳ một hình thức nào khác không phụ thuộc vào tên gọi, trong một nỗ lực với các chủ thể kinh doanh khác, cùng hạn chế hoặc thực hiện những hành vi kinh doanh tương tự như ấn định, duy trì hoặc tăng giá, hoặc để giới hạn sản xuất, kỹ thuật, sản phẩm, với các bên hoặc doanh nghiệp đối thủ, mà do vậy, xâm phạm lợi ích công, gây ra hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trong một lĩnh vực thương mại cụ thể (Khoản 2, Điều 6).

Như vậy hành vi thoả thuận ấn định giá được coi là hành vi hạn chế thương mại bất hợp lý theo Luật Chống độc quyền Nhật Bản. Đối với hành vi thoả thuận, thông thường, Ủy ban thương mại công bằng Nhật Bản (JFTC)phải xem xét, điều tra và chứng minh các yếu tố gồm (i) có hay không một thoả thuận, (ii) thoả thuận đó có phải giữa các đối thủ cạnh tranh không, và (iii) thoả thuận đó có nhằm hoặc có tác động hạn chế cạnh tranh không, có ảnh hưởng tiêu cực gì đối với sự phát triển của một ngành kinh tế nhất định nào không. Trong bản án do Toà tối cao Tokyo tuyên năm 1973 có giải thích tác động hạn chế cạnh tranh của thoả thuận là việc dẫn đến một tình trạng nào đó, bằng việc làm giảm sự cạnh tranh, có thể tạo cho một chủ thể kinh doanh xác định hay một hội nhóm doanh nghiệp khả năng thay đổi giá cả, chất lượng, số lượng và các điều kiện khác, để sau đó, tạo cho những chủ thể này một sức mạnh để kiểm soát thị trường.

2. Thông tin về vụ việc thoả thuận giữa các thành viên thuộc Hiệp hội bán lẻ xăng dầu tại Thành phố Hiroshima 1997

Chu trình lưu thông xăng dầu tại Nhật Bản như sau:

Đọc tiếp

PRAEDIALES SERVITUDES HAY LÀ QUYỀN HƯỞNG DỤNG ĐỐI VỚI BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ THEO PHÁP LUẬT LA MÃ

Lê Nguyễn Gia Thiện
Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM

Nguyễn Thị Thùy Linh
Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam

Pháp luật La Mã thượng tôn và bảo vệ tuyệt đối quyền của chủ sở hữu đối với tài sản của mình[1]. Theo đó, chủ sở hữu có quyền thực hiện tất cả các quyền đối với tài sản của mình từ chiếm hữu, mua bán, cầm cố, tặng cho, di chúc và thậm chí là từ bỏ tài sản. Các quyền này là tuyệt đối và pháp luật chỉ hạn chế chủ sở hữu thực hiện quyền của mình trong một số trường hợp rất hạn hữu. Tuy nhiên, bên cạnh chủ sỡ hữu, còn có một loại chủ thể khác dù không có tư cách chủ sỡ hữu nhưng vẫn có quyền sử dụng và hưởng các lợi ích[2] trên một tài sản nhất định. Pháp luật La Mã gọi những trường hợp này là servitudes, nghĩa là quyền hưởng dụng trên tài sản của người khác. Servitudes được phân thành hai loại là quyền hưởng dụng bất động sản của người khác (praediales servitudes) và quyền hưởng dụng tài sản không phải là bất động sản của người khác (personales servitudes)[3]. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về đặc điểm, phân loại, cũng như cách thức thiết lập, chấm dứt các praediales servitudes theo pháp luật La Mã.

1. Khái niệm, các nguyên tắc của praediales servitudes

1.1. Khái niệm

Praediales servitudes là quyền hưởng dụng của một người trên bất động sản của người khác nằm liền kề với bất động sản của mình[4]. Praediales servitudes là một loại tài sản, một quyền đối vật đặc biệt (jus in rem), vì thế nó đối kháng với tất cả các chủ thể khác. Quyền này thuộc về chủ của một bất động sản nhất định (bất động sản hưởng quyền – praedium dominans), tuy nhiên chủ bất động sản không thực hiện quyền này trên chính bất động sản của mình, mà lại thực hiện quyền trên bất động sản liền kề với nó (bất động sản chịu quyền – praedium serviens). Vì bản chất praediales servitudes gắn liền với các bất động sản liền kề, nên nếu một người sở hữu bất động sản nhưng không có bất động sản khác nằm liền kề, hay bản thân người đó không sở hữu bất động sản, thì đương nhiên người đó không có quyền này[5]. Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ là chủ sở hữu của một bất động sản liền kề với bất động sản thuộc các tổ chức tôn giáo (res sacrea hayres religiosae) cũng không thể thực hiện quyền dụng ích của mình[6].

Đọc tiếp

KHÁI NIỆM VỀ HỘI TRONG PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP VÀ GÓP Ý HOÀN THIỆN KHÁI NIỆM VỀ HỘI CỦA VIỆT NAM

TS. NGUYỄN VĂN QUÂN – Học viện Khoa học xã hội

HIẾN PHÁP NĂM 2013:

“Điều 25 

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015:

“Điều 2. Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

2. Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

“Điều 74. Pháp nhân

2. Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.”

“Điều 76. Pháp nhân phi thương mại

1. Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên.

2. Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác.

3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

“Điều 82. Thành lập, đăng ký pháp nhân

1. Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Đăng ký pháp nhân bao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi và đăng ký khác theo quy định của pháp luật.

3. Việc đăng ký pháp nhân phải được công bố công khai.”
“Điều 101. Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.”.

CIVILLAWINFOR (Cập nhật, không có mục đích phản biện tác giả)

Việc tìm hiểu, nghiên cứu về tự do hiệp hội ở các quốc gia khác là nhằm góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật về tự do hiệp hội phù hợp với yêu cầu thực tế và các chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã cam kết. Pháp là một trong những quốc gia có luật về hội sớm nhất (1901) và có sinh hoạt hội đoàn sôi động, với hơn 1,3 triệu hội đang hoạt động, ngân sách hoạt động 70 tỉ euros. Bài viết giới thiệu về khái niệm hội theo pháp luật của Pháp, từ đó đưa ra một số đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật về hội của Việt Nam.

1. Khuôn khổ pháp lý của quyền về hội tại Pháp

1.1 Tự do về hội trong luật của Pháp

Hiến pháp hiện hành của Pháp không có điều khoản về lập hội. Tuyên ngôn nhân quyền 1789 cũng không nhắc tới, nhưng quyền lập hội được xem như một nguyên tắc căn bản có giá trị hiến định thông qua các phán quyết của Tham chính viện (Conseil d’Etat) và Hội đồng bảo hiến (Conseil constitutionnel).

Đọc tiếp

KINH NGHIỆM HẬU CHIẾN CHO VIỆT NAM: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CỦA TÂY ĐỨC SAU NĂM 1945

 TÔN THẤT THÔNG – CHLB ĐỨC

Tây Đức năm 1945 và Việt Nam năm 1975 khác biệt rất lớn trên nhiều mặt, nhưng đồng thời cũng có những điểm tương đồng mà người làm chính sách có thể căn cứ vào đó để tham khảo kinh nghiệm và vận dụng cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Tham luận này không đưa ra những đề nghị cụ thể, mà chỉ trình bày một cách tổng quát lịch sử phát triển Tây Đức trong 10 năm hậu chiến từ 1945-1955. Có ba vấn đề lý thú mà chúng ta có thể nghiên cứu thêm: 1) chính sách kinh tế hậu chiến, 2) chính sách dùng người với tinh thần hòa giải dân tộc, 3) chọn thế đứng chính trị và phương pháp đấu tranh. Trong giới hạn cho phép, phần trình bày sau đây đặt trọng điểm vào kinh tế hậu chiến. Đấy là chính sách Kinh tế Thị trường Xã hội. Trước hết chúng ta đi tìm nguồn gốc của lý thuyết Tự do trong Trật tự được trường phái Freiburg khai phá, sau đó tóm tắt những luận đề cơ bản của của chính sách kinh tế lấy lý thuyết đó làm nền tảng. Khi chiến tranh chấm dứt, Alfred Müller-Armack đã dựa vào nền tảng lý thuyết đó, bổ sung thêm bằng những nhân tố xã hội và phác hoạ khung trật tự kinh tế cũng như một loạt chính sách kinh tế xã hội cho chính phủ Cộng hòa Liên bang (CHLB) Đức. Sự thành công của CHLB Đức cho đến hôm nay gắn liền mật thiết với chính sách Kinh tế Thị trường Xã hội với bốn khuôn mặt tiêu biểu: lý thuyết gia kinh tế Walter Eucken, luật gia Franz Böhm, chiến lược gia kinh tế Alfred Müller-Armack và chính trị gia có viễn kiến Ludwig Erhard. * Tham luận trình bày tại Hội thảo Berlin tháng 7 năm 2015 thời đại mới TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN Số 34 tháng 11, 2015 Tôn Thất Thông | Chính sách phát triển Tây Đức 2 Thời Đại Mới | Tháng11, 2015 Sau cùng chúng ta sẽ duyệt lại những sự kiện kinh tế quan trọng trong những năm hậu chiến đầu tiên và thử phân tích xem đâu là yếu tố quan trọng đã đưa kinh tế nước Đức vượt qua cả những nước đồng minh thắng trận chiếm đóng.

***

Không ít người cho rằng lấy kinh nghiệm Tây Đức để áp dụng cho Việt Nam là một việc làm ảo tưởng vì sự khác nhau và chênh lệch về mọi mặt giữa hai nước quá lớn. Tuy thế có hai khía cạnh đáng chú ý:

Đọc tiếp

19 QUYỀN CƠ BẢN – 19 YẾU TỐ CẤU THÀNH NỀN DÂN CHỦ BỀN VỮNG Ở ĐỨC

TÁC GIẢ BẢN DỊCH : NGUYỄN MINH TUẤN

Nguồn bản gốc Tiếng Đức: tại Website chính thức của Bundeszentrale für politische Bildung (BPB), truy cập tại đây

Nội dung và cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản là linh hồn của bất kỳ một bản Hiến pháp nào. 19 Điều đầu tiên của Luật cơ bản năm 1949 là 19 qui định về quyền cơ bản và cũng chính là 19 viên đá tảng gắn kết tạo dựng nên nền dân chủ bền vững ở Đức.

Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của những điều luật, tác giả xin trân trọng công bố và giới thiệu đến bạn đọc bản dịch tham khảo Tiếng Việt từ nguyên bản Tiếng Đức 19 quyền cơ bản trong Luật cơ bản (Grundgesetz) của CHLB Đức này.

Bản dịch Tiếng Việt dưới đây cũng như những bản dịch khác đã giới thiệu trên trang blog cá nhân này chỉ mang tính chất tham khảo. Tác giả bản dịch hoàn toàn không chịu trách nhiệm pháp lý về bất cứ sự trùng lặp, sao chép hay suy luận nào khác đáng tiếc liên quan đến bản dịch này có thể xảy ra. Tác giả bản dịch rất mong nhận được các ý kiến đóng góp thiện chí của bạn đọc gửi về địa chỉ email nguyenminhtuan_hn@yahoo.com để hoàn thiện bản dịch này và các bản dịch văn bản pháp luật khác. (NMT)

I. CÁC QUYỀN CƠ BẢN (I. GRUNDRECHTE)

Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):

Artikel 1
[Menschenwürde;
Grundrechtsbindung der staatlichen Gewalt]

(1) Die Würde des Menschen ist unantastbar. Sie zu achten und zu schützen ist Verpflichtung aller staatlichen Gewalt.
(2) Das Deutsche Volk bekennt sich darum zu unverletzlichen und unveräußerlichen Menschenrechten als Grundlage jeder menschlichen Gemeinschaft, des Friedens und der Gerechtigkeit in der Welt.
(3) Die nachfolgenden Grundrechte binden Gesetzgebung, vollziehende Gewalt und Rechtsprechung als unmittelbar geltendes Recht.

Tiếng Việt (Vietnamesisch):

Điều 1
Bảo vệ nhân phẩm;
Sự ràng buộc của quyền lực nhà nước
bởi các quyền cơ bản

(1) Nhân phẩm là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm là nghĩa vụ của tất cả các nhánh quyền lực nhà nước.

(2) Nhân dân Đức vì thế thừa nhận việc nhân quyền (Menschenrechte) là bất khả xâm phạm và không thể bị lạm dụng như là nền tảng của cộng đồng, hoà bình và công lý trên toàn thế giới.

(3) Các quyền hạn cơ bản dưới đây ràng buộc trực tiếp các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Đọc tiếp

TÌM HIỂU PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TRÊN THẾ GIỚI

PHAN THỊ THU HÀ – Viện Khoa học xét xử, Tòa án nhân dân tối cao

Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóa ngày nay, nhu cầu xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật về kinh tế nói chung và pháp luật phá sản nói riêng luôn được các quốc gia quan tâm, chú ý. Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc xây dựng, sửa đổi pháp luật, theo đó pháp luật phá sản cũng không là ngoại lệ. Do vậy, việc nghiên cứu, tham khảo pháp luật về phá sản của các nước trên thế giới và trong khu vực có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật phá sản trong nước.

Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng các yêu cầu của việc gia nhập WTO và thực hiện các cam kết quốc tế đa phương, song phương của Việt Nam, ngay từ buổi đầu của công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, Việt Nam đã xây dựng và ban hành Luật Phá sản doanh nghiệp (năm 1993). Trải qua 10 năm thi hành, các quy định của Luật này không còn phù hợp với thực tiễn nên Luật Phá sản đó đã được sửa đổi, bổ sung khá cơ bản và toàn diện.

Luật Phá sản năm 2004 được ban hành là kết quả của việc tổng kết thực tiễn sau 10 năm thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, đồng thời cũng là kết quả của việc nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm xây dựng pháp luật về phá sản của một số nước trong khu vực và trên thế giới. Do vậy, trong chuyên đề này chúng tôi tìm hiểu chung (có tính khái quát) về pháp luật phá sản trên thế giới.

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN

Theo quan niệm chung, tình trạng phá sản là hậu quả đư­ơng nhiên của quá trình cạnh tranh, kinh doanh trên thương trường. Việc giải quyết hậu quả của quá trình đó là tất yếu, là nhiệm vụ của bất kỳ quốc gia nào nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể tham gia kinh doanh, đảm bảo vai trò của nhà nước trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội.

Trải qua quá trình dài của lịch sử phát triển kinh tế, bên cạnh những yếu tố tích cực là thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thì nền kinh tế cũng xảy ra nhiều biến động, thăng trầm và khủng hoảng. Hậu quả của sự khủng hoảng kinh tế thường kéo theo sự phá sản hàng loạt của các thương nhân.

Để giải quyết hậu quả của kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán, giữa chủ nợ và người mắc nợ đã cùng nhau tìm ra những phương thức giải quyết khác nhau, hoặc là tự giải quyết, hoặc là với sự giúp đỡ của một cá nhân hoặc tập thể nào đó. Tuy nhiên, đôi khi các phương thức giải quyết tự phát không hiệu quả, từ đó phát sinh nhu cầu có những quy định pháp luật và sự can thiệp cần thiết để điều chỉnh, giải quyết hiện tượng phá sản một cách hiệu quả hơn, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan: chủ nợ, người mắc nợ và người lao động.

Đọc tiếp

MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG LUẬT TRÁCH NHIỆM XÂM HẠI QUYỀN LỢI CỦA NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

TS. ĐỔNG HIỂU TÙNG (Dong XiaoSong)- Giảng viên Trường Luật – Đại học Vân Nam (Trung Quốc)

Ngày 26/12/2009, Hội nghị lần thứ 12 của Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Quốc hội) khóa XI đã biểu quyết thông qua Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi – Luật TNXHQL). Luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2010. Tiếp sau các luật Luật Hợp đồng, Luật Vật quyền, đây là một đạo luật quan trọng trong lĩnh vực dân sự ở Trung Quốc. Đạo luật này sẽ là một trong các cơ sở để xây dựng xã hội pháp quyền, nó cũng có nghĩa là Trung Quốc tiến thêm một bước mới tới việc định hình một Bộ luật Dân sự.

1. Quá trình xây dựng luật

Những sự việc xâm hại quyền lợi cá nhân như trách nhiệm trong y tế, trách nhiệm với sản phẩm, tai nạn giao thông… xảy ra thường xuyên, hàng ngày. Cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, các hình thức xâm hại quyền lợi của cá nhân cũng xuất hiện ngày càng nhiều.

Tuy nhiên, những quy định trong pháp luật hiện hành hoặc là mang tính nguyên tắc, hoặc là phân tán trong các đạo luật đơn lẻ, và còn thiếu những quy định về các vấn đề chung đối với trách nhiệm xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể dân sự. Một số quy định lại không còn phù hợp với nhu cầu của cuộc sống xã hội và của thực tiễn tư pháp. Để bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể dân sự, xây dựng một xã hội hài hòa, ổn định, cần thiết phải đưa ra những quy định đối với trách nhiệm của việc xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp mang tính quy phạm, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cuộc sống xã hội, xây dựng một đạo luật tương đối hoàn chỉnh về trách nhiệm đối với việc xâm hại quyền lợi hợp pháp.

Việc xây dựng Luật TNXHQL của Trung Quốc được bắt đầu từ khi soạn thảo Bộ luật Dân sự năm 2002. Ngày 23/12/2002, Dự thảo Bộ luật Dân sự được trình lên Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa IX thẩm định, sau đó công bố lấy ý kiến của nhân dân trong cả nước, gọi là Dự thảo Luật Dân sự (bản trưng cầu ý kiến). Trong Dự thảo này, đã có một phần nói về TNXHQL. Vì vậy, phần 8 trong Dự thảo Luật Dân sự có thể coi là “sơ thảo lần thứ nhất” của Luật TNXHQL của Trung Quốc.

Sau đó, các nhà lập pháp thấy rằng, Dự thảo Luật Dân sự (bản trưng cầu ý kiến) gồm hơn 1.200 điều, đề cập đến quá nhiều lĩnh vực, nội dung phức tạp, việc sửa đổi, thẩm định của một đạo luật như vậy cần một thời gian quá dài, khả năng hoàn chỉnh là rất khó khăn. Do vậy, các nhà lập pháp quyết định chia Dự thảo Luật Dân sự thành từng phần để sửa đổi và thông qua, ban hành dưới các hình thức đạo luật đơn hành. Sau khi ban hành các đạo luật đơn hành, sẽ ghép các đạo luật này lại thành hình thức một Bộ luật để biên soạn Bộ luật Dân sự.

Đọc tiếp

LUẬT CÔNG VÀ LUẬT TƯ

NCS. NGUYỄN MINH TUẤN – Đại học SAARLAND, CHLB Đức

Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law), pháp luật mỗi quốc gia theo truyền thống thường được phân chia thành luật công (public law – droit public – öffentliches Recht) và luật tư (private law – droit privé – Privatrecht). Vấn đề tưởng như đã rõ ràng nhưng hóa ra lại còn đó nhiều câu hỏi cần làm sáng tỏ như: những tư tưởng, học thuyết về phân chia hệ thống pháp luật thành luật công và luật tư có từ bao giờ, được kế thừa, phát triển ra sao? quan niệm của các nhà luật học Civil Law hiện nay về vấn đề này như thế nào, những vấn đề lý luận nào còn bỏ ngỏ, cần tiếp tục giải đáp? Bài viết dưới đây sẽ góp phần làm sáng tỏ những câu hỏi trên từ góc nhìn lịch sử luật pháp và thực tiễn lý luận ở CHLB Đức.

1. Lịch sử phân chia luật công và luật tư

– Học thuyết dựa trên cơ sở lợi ích (Interresentheorie)
Tư tưởng, học thuyết phân chia luật công và luật tư đã có rất sớm từ thời La Mã cổ đại. Nhà triết học Cicero từ thế kỷ I TCN đã đưa ra quan điểm rằng pháp luật gồm có hai bộ phận cấu thành gồm: những qui định pháp luật điều chỉnh các quan hệ cá nhân (Ius privatum) và những qui định pháp luật điều chỉnh các quan hệ công (Ius publicum). (1)

Đến thế kỷ II SCN, nhà luật học La Mã Ulpian (170 -228 SCN) đã đưa ra học thuyết phân chia giữa luật tư (Ius civile) và luật công (Ius publicum) dựa trên cơ sở lợi ích (hay còn gọi là học thuyết lợi ích – Interessentheorie). Học thuyết này phân biệt: Luật công liên quan đến lợi ích của nhà nước và lợi ích công cộng, luật tư liên quan đến lợi ích của cá nhân. (2)
Học thuyết quan hệ giữa các chủ thể (Subjektionstheorie)

Đến thế kỷ XIX, những tư tưởng về sự phân chia giữa luật công và luật tư của Luật La Mã được kế thừa và phát triển thông qua học thuyết dựa trên quan hệ giữa các chủ thể (Subjektionstheorie). Học thuyết này phân chia: Nếu là quan hệ có tính thứ bậc (Über-Unterordnungsverhältnis) giữa nhà nước và công dân thì đó là quan hệ pháp luật do luật công điều chỉnh, còn quan hệ mà các bên tham gia là quan hệ bình đẳng (Gleichrangigkeitsverhältnis) thì đó là quan hệ pháp luật của luật tư điều chỉnh. (3)

Đọc tiếp

TÌM HIỂU VỀ KHÁI NIỆM NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TẠI PHÁP

ĐỖ KIM THÊM

Nước Pháp là một quốc gia dân chủ, văn minh, tiến bộ, tôn trọng nhân quyền và có tinh thần thượng tôn luật pháp. Từ nhận định này chúng ta dễ suy đoán rằng khái niệm về nhà nước pháp quyền chắc hẳn đã có một truyền thống trong văn hoá cũng như dân trí của nước Pháp. Đây là một cảm nhận sai lầm. Thực tế cho thấy là nước Pháp không hề có thuật ngữ État de droit trong học giới mà chỉ là một sự phiên dịch từ Rechtsstaat của Đức. Ngoài ra, khác với các quốc gia dân chủ phương Tây, chính thể lập hiến (constitutionalism) không làm nền tảng cho mọi sinh hoạt chính trị tại Pháp trong cả một thời gian dài.

Thế thì người Pháp hiểu gì, nghĩ gì và làm gì đối với khái niệm này, đặc biệt hơn kinh nghiệm của Pháp có giúp cho Việt Nam trong việc định hình cho khái niệm này không, đó là chủ đề của bài viết này.

1. Những đặc điểm chính

Có nhiều cách giải thích khác nhau về trường hợp của Pháp, một số học giả chỉ nêu lên những đặc điểm chính mà không đi sâu vào các học thuyết. Họ cho rằng vấn đề thuật ngữ không quan trọng mà chính ưu thế của quốc hội và sự bất ổn chính trị đã dần dần đưa tới việc lập Toà Bảo hiến để nâng cao tầm quan trọng của việc áp dụng những nguyên tắc hiến định. Từ đó mà khái niệm nhà nước pháp quyền mới thành hình.

Thuật ngữ

Lịch sử triết học pháp quyền của Pháp cho thấy Pháp không hề có khái niệm về État de droit. Giáo sư Léon Dugit là người đầu tiên đã du nhập ý niệm Rechtsstaat vào Pháp năm 1907. Sau đó giáo sư Raymond Carré de Malberg đã triển khai nội dung này trong tác phẩmContribution à la théorie générale de l’ État năm 1922. Ông đã đề xuất nhiều ý kiến để áp dụng, nhưng không gây được tiếng vang nào trong học giới hay ngoài công luận.
Dù thuật ngữ này không có trong văn kiện chính thức, tuyên ngôn, sách giáo khoa hay được thảo luận, nhưng chúng ta không kết luận rằng nước Pháp không quan tâm đến vấn đề pháp quyền. Pháp đã đặt trọng tâm vào hai khái niệm khác, đó là Nhà nước (État) và Cộng hoà(République), thay thế cho nhà nước pháp quyền. Ngay trong thuật ngữ Nhà nước, người Pháp đã hàm ý rằng nhà nước phải tuân theo luật pháp, mà không minh thị, vì đó là điều không cần thiết. Thuật ngữ Cộng hoà có lịch sử lâu đời và phức tạp hơn, nhưng đến khi Jean Jacques Rousseau đưa ra thảo luận thì thuật ngữ này trở nên chính xác hơn, nhất là khi xác minh rằng nhà nước phải cai trị bằng luật pháp. Rousseau cũng đề xuất rằng hai khái niệm Nhà nước và Cộng hoà nên hiểu là đồng nghĩa vì mang nhiều sự tương đồng trong lý thuyết. Do đó, giới học giả cho rằng về cơ bản thì Pháp cũng có khái niệm nhà nước pháp quyền dù không minh danh, mà điều XVI của bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền là một thí dụ điển hình khi công nhận rằng nguyên tắc phân quyền và tôn trọng nhân quyền làm cơ sở cho mọi hoạt động của nhà nước.

Đọc tiếp

LỊCH SỬ RA ĐỜI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA EC

CỔNG THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG – Hiệp ước Rôme và các quy định cạnh tranh trong đó Hiệp ước có hiệu lực từ năm 1958. Các quy định này được thực thi cho đến khi có Quy chế số 17 được ban hành 4 năm sau đó, tức là 7 thập kỷ sau khi Hoa Kỳ có luật cạnh tranh. Luật của EC có sự liên hệ với Luật của Hoa Kỳ trong mối so sánh hệ thống giữa hai bờ Đại Tây Dương về các ý tưởng, bài học có thể được rút ra từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ.

Ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong lĩnh vực luật cạnh tranh được nhìn nhận khá cụ thể. Ngày 1/1/1958, Hiệp ước Rôme đồng thời với một hệ thống luật cạnh tranh mới của Đức cùng có hiệu lực. Các quan chức Hoa Kỳ chiếm đóng Tây Đức cho rằng việc nền công nghiệp nước Đức trước chiến tranh bị tập trung hóa và cartel hóa nặng nề đã giúp, hậu thuẫn cho Hitler nổi lên nắm quyền lực, gây ra chiến tranh thế giới; luật cạnh tranh theo kiểu Mỹ sẽ giúp nền dân chủ của nước Đức hậu chiến. Tuy Đạo luật chống cartel hóa đã lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1947, nhưng do áp lực từ trong nước và của phíaHoa Kỳ yêu cầu phải có một hệ thống luật mới hoàn toàn, Bộ trưởng kinh tế thời Thủ tướng Adenauer, ông Ludwig Erhard, đã gây áp lực mạnh mẽ cho việc ban hành luật mới năm 1958.

Luật Cạnh tranh mới của Đức đã nhanh chóng có được một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp lý và kinh tế của nước Đức. Tổ chức chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi luật là Cục Cartel liên bang. Kinh nghiệm và ảnh hưởng của Đức có tác động quan trọng đến luật cạnh tranh của EC bắt đầu phát triển từ giữa những năm 1960 trở đi. Do luật chống độc quyền củaHoa Kỳ ảnh hưởng đến hệ thống luật của Đức, hệ thống luật của Đức lại ảnh hưởng đến luật của EC. Nên theo nguyên lý bắc cầu thì luật của EC liên quan chủ yếu đến luật của Hoa Kỳ.

Trên thực tế, Luật cạnh tranh EC đã được xây dựng bởi người châu Âu, trong đó chủ yếu là người Đức, với những ý tưởng của người Mỹ. Tuy nhiên, đã thành xu hướng là người ta thường thảo luận luật của EC thông qua lăng kính những phát triển của luật Mỹ. Trong một quyển sách xuất bản năm 1998, Daniel Gerber, một luật sư về luật so sánh, luận lập rằng Châu Âu có một truyền thống giàu có về những tư tưởng mà hiện nay được gọi là luật cạnh tranh. Chính điều này đã tạo cho pháp luật cạnh tranh trong nước của các nước Châu Âu cũng như luật cạnh tranh của EC một đặc trưng của riêng nó.

Đọc tiếp

%d bloggers like this: