TRANH CHẤP NHÃN HIỆU GIỮA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC[1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

1. Dẫn nhập

Trong một phần của bài tham luận Quản lý tài sản trí tuệ trong các trường đại học có đào tạo về kinh tế và quản lý tại Hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới hoạt động khoa học và công nghệ để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực về kinh tế – quản trị kinh doanh trong các trường đại học phục vụ phát triển kinh tế – xã hội[2] do Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức tại Hà Nội vào ngày 25.01.2010, tác giả đã nêu sơ bộ về nhãn hiệu của các cơ sở giáo dục và đào tạo ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả đã cảnh báo về khả năng xảy ra tranh chấp nhãn hiệu giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo ở Việt Nam.

Ngày 07.08.2010 lời cảnh báo trên đã thành hiện thực, khi Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) đã có Đơn khiếu nại gửi Trường Đại học Công nghệ Đông Á (Bắc Ninh), Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam và đồng gửi các cơ quan báo chí về việc Trường Đại học Công nghệ Đông Á xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu “Đại học Đông Á” do Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) là chủ sở hữu.

Nhận thấy rằng đây là một vấn đề cần nghiên cứu để hạn chế, đi đến chấm dứt tình trạng tranh chấp về nhãn hiệu giữa các trường đại học và cũng góp phần để các trường đại học khẳng định tài sản trí tuệ của mình trong thời kỳ hội nhập quốc tế, tác giả đã tiến hành khảo sát tổng thể các nhãn hiệu của các trường đại học tại Việt Nam.

Để có tư liệu viết bài này, chúng tôi đã sử dụng các nguồn thông tin: 1. Công báo Sở hữu công nghiệp do Cục SHTT phát hành; 2. Một số văn bản hành chính do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành; 3. Các tin tức thời sự đăng trên báo chí hoặc trên Internet. Cũng cần nhắc lại là các nguồn thông tin này thuộc đối tượng loại trừ không được bảo hộ quyền tác giả theo điều 15 Luật SHTT.

2. Khái quát về nhãn hiệu – đối tượng của quyền SHTT

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối tượng của quyền SHTT bao gồm: quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý, quyền đối với giống cây trồng.

Đọc tiếp

NHỮNG LỖI DOANH NGHIỆP THƯỜNG GẶP TRONG QUÁ TRÌNH YÊU CẦU BẢO HỘ NHÃN HIỆU[1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – – Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp không những phải quan tâm đến công tác tổ chức sản xuất, kinh doanh mà còn phải quan tâm đến việc xây dựng, bảo vệ, quảng bá để nâng cao uy tín thương hiệu của mình.

Thương hiệu là yếu tố quan trọng làm nên giá trị của một doanh nghiệp. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thương hiệu, nhưng có thể nói thương hiệu của một doanh nghiệp được hình thành bởi nhiều thành tố thuộc tài sản vô hình, như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích, uy tín của doanh nghiệp, hình ảnh của doanh nghiệp… Trong các thành tố vừa nêu thì nhãn hiệu là thành tố quan trọng nhất, nó là các dấu hiệu tác động trực tiếp đến giác quan của người tiêu dùng, như nhìn thấy (cấu trúc từ ngữ, màu sắc, hình khối… của nhãn hiệu), nghe thấy (cách phát âm nhãn hiệu), liên tưởng đến (ý nghĩa của nhãn hiệu, ví dụ: hoa hướng dương – sunflower, ánh dương – sunlight…).

Nhãn hiệu đối với doanh nghiệp quan trọng như vậy, nhưng rất tiếc đa số doanh nghiệp lại thường mắc các lỗi dẫn đến đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu bị từ chối, hậu quả là những doanh nghiệp này mất cơ hội kinh doanh, tốn phí thời gian chờ đợi vô ích và sau nữa tốn kém về kinh phí.

Bài viết này sử dụng các tài liệu do Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) quản lý về việc đăng ký nhãn hiệu, thẩm định hình thức, thẩm định nội dung, cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc ra thông báo từ chối bảo hộ nhãn hiệu… đồng thời chúng tôi cũng sử dụng các tài liệu có liên quan đến các doanh nghiệp Nghệ An, với mục đích giúp các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Nghệ An nói riêng nhận biết các lỗi đã gặp trong quá trình yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu, qua đó tránh các lỗi này để nâng cao khả năng được sở hữu hợp pháp nhãn hiệu của riêng mình nhằm tạo những lợi thế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Để thống nhất cách hiểu thuật ngữ, chúng tôi dẫn định nghĩa của Luật SHTT: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.

Đọc tiếp

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH

TRẦN MINH DŨNG – Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ

I. Quy định pháp luật về biện pháp hành chính xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

1. Tại sao sử dụng biện pháp hành chính để xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ?

Khác với quyền sở hữu tài sản thông thường, quyền sở hữu trí tuệ có đặc điểm là đối tượng quyền tồn tại chủ yếu dưới dạng thông tin, do đó có khả năng lan truyền rộng lớn và dễ có khả năng được vật chất hoá hàng hoạt, sau đó trở thành thực thể tác động, ảnh hưởng đến đời sống của nhiều người, cũng như của cả xã hội. Do vậy, một hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ gây hậu quả tiêu cực cho người nắm giữ quyền bị xâm phạm đó, mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều người tiêu dùng khác, cũng như ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội.

Như vậy, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng là hành vi vi phạm pháp luật về bảo hộ và quản lý nhà nước trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (Nhà nước đã xác lập quyền cho chủ thể quyền và nghiêm cấm hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu trí tuệ) và gây ảnh hưởng đến lợi ích của chủ thể quyền, lợi ích của người tiêu dùng và gây ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội cần phải loại trừ. Do vậy, trong một số trường hợp nhất định, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể coi là hành vi vi phạm hành chính.[1]

Pháp luật về sở hữu trí tuệ có quy định về việc Nhà nước có trách nhiệm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền và việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là hành vi vi phạm pháp luật. Một hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ gây tổn hại cho chủ thể quyền đối với đối tượng sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, mà còn có thể gây thiệt hại đến lợi ích của người thứ ba – người tiêu dùng trong xã hội và có thể nói là gây tổn hại cho lợi ích của xã hội. Ví dụ, việc xâm phạm quyền đối với một nhãn hiệu hàng hoá, thì hành vi xâm phạm quyền đó không chỉ gây tổn hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu bị xâm phạm (giảm thị phần, giảm lợi nhuận, làm suy giảm lòng tin của khách hàng vào sản phẩm mang nhãn hiệu đó…), mà còn gây thiệt hại cho người tiêu dùng khi mua phải hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu hàng hoá đó (như chất lượng không được như hàng thật nhưng phải trả tiền với giá trị tương đương với hàng thật; đôi khi còn gây tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng nếu hàng giả, hàng nhái đó liên quan đến thực phẩm hoặc dược phẩm…).

Trong bối cảnh trình độ công nghệ ngày càng cao, việc sản xuất các sản phẩm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể được tiến hành với quy mô lớn và hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng được lưu thông với phạm vi rộng, khiến cho số người bị ảnh hưởng hoặc bị tổn hại cũng sẽ chiếm số đông trong xã hội. Vì vậy, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng thuộc loại hành vi chống lại lợi ích xã hội. Do đó, bên cạnh quan hệ dân sự, vấn đề xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng được xem xét và xử lý theo khía cạnh hành chính. Mục tiêu của biện pháp hành chính trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ là bảo vệ lợi ích của người thứ ba và của xã hội, cũng chính là gián tiếp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền.

Đọc tiếp

CÓ NÊN ĐỊNH GIÁ CÁC QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

BÙI HUYỀN

Ngày càng có nhiều người công nhận rằng, quyền sở hữu trí tuệ như một tài sản và công cụ của một doanh nghiệp có thể đóng góp đáng kể cho thành công của doanh nghiệp. Sự thật là việc tiềm lực này tồn tại cho các doanh nghiệp thu lợi từ các danh mục quyền sở hữu trí tuệ của họ đã dẫn tới một mối quan tâm nhiều hơn về định giá các quyền sở hữu trí tuệ.

Ở đây nên quan tâm tới sự khác nhau giữa giá cả và giá trị của một tài sản sở hữu trí tuệ. Giá cả chủ yếu được xác định như những thứ mà một người mua sẵn sàng trả, trong một giao dịch bình thường dựa vào giá trị được nhận thấy của sản phẩm. Giá trị là trừu tượng nhưng những tính toán số lượng tất định dựa trên một loạt các phương pháp và luật lệ được kiểm định theo đúng trật tự. Nói cách khác, mặc dù giá trị sở hữu trí tuệ có thể ảnh hưởng tới việc định giá một tài sản sở hữu trí tuệ cũng không nhất thiết phải giống như việc định giá cả. Việc định giá thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác bao gồm thời gian, nhu cầu, lý do bán và những kỹ năng đàm phán của các bên liên quan.

Các công cụ được sử dụng cho việc định giá các sản phẩm sở hữu trí tuệ có thể giúp các doanh nghiệp quản lý các danh mục quyền sở hữu trí tuệ của họ một cách thực tế và hiệu quả hơn. Việc định giá các quyền sở hữu trí tuệ đưa ra một tiêu chuẩn so sánh hữu ích và cơ sở đàm phán về việc chuyển nhượng hoặc mua các tài sản thuộc quyền sở hữu trí tuệ.

Trước khi một doanh nghiệp bắt tay vào việc định giá các giá trị tài sản quyền sở hữu trí tuệ thì cần phải trả lời các câu hỏi sau:

  • Tại sao doanh nghiệp quyết định định giá các quyền sở hữu trí tuệ?
  • Khi nào cần và sử dụng các thông tin (kết quả của việc định giá trị này)?
  • Quyền sở hữu trí tuệ nào cần được định giá?
  • Phương pháp định giá nào nên được áp dụng?
  • Những cân nhắc khi định giá quyền sở hữu trí tuệ

Đọc tiếp

THẾ NÀO LÀ ĐỒNG TÁC GIẢ?

VŨ THỊ PHƯƠNG ANH

Vụ tai tiếng về "đạo văn" mới đây làm nảy sinh ra một câu hỏi mà theo tôi lẽ ra phải được đặt ra từ lâu, ngay từ khi VN bắt đầu thực hiện đào tạo sau đại học trong nước, đó là: Thế nào là đồng tác giả (co-authorship)?

Câu hỏi này cần được đặt ra là vì trong vụ việc được báo chí đề cập đến gần đây, mặc dù bài báo ghi đến 4 tác giả (đồng nghĩa với việc cả 4 người cùng hưởng danh tiếng và có thể cả những quyền lợi khác nữa), nhưng đến lúc bài báo bị kết án là có đạo văn thì các tác giả khác lại nói rằng thực ra chỉ có một tác giả chính, còn những người khác không tham gia gì (tức sẽ không chịu trách nhiệm về việc đạo văn!)

Để trả lời câu hỏi đã đặt ra, tôi đã tìm trên mạng, và tìm được một bài viết rất đầy đủ, rõ ràng có tựa là "What is authorship, and what should it be? A survey of prominent guidelines for determining authorship in scientific publications", đăng trên tạp chí mạng Practical Assessment, Research and Evaluation. Bài báo rất hữu ích cho những người làm công tác quản lý khoa học công nghệ vì các tác giả đã bỏ công tổng hợp hết những hướng dẫn về "đồng tác giả" từ các tạp chí và hiệp hội lớn của các lĩnh vực khác nhau.

Dưới đây tôi chỉ đưa ra một định nghĩa về "co-authorship" mà tôi thấy là khá trùng với những gì tôi biết qua kinh nghiệm thời tôi đi học nước ngoài. Định nghĩa này cũng rút từ bài báo trên, ở trang 5, định nghĩa của Hiệp hội xã hội học Anh Quốc:

Everyone who is listed as an author should have made a substantial direct academic contribution to at least two of the four main components of a typical scientific project or paper; a) conception or design, b) data collection and processing, c) analysis and interpretation of the data, and d) writing substantial sections of the paper. Authorship should be reserved for those, and only those, who have made significant intellectual contribution to the research.

Đọc tiếp

CÂU CHUYỆN ĐỊNH GIÁ THƯƠNG HIỆU

PHI TUẤN

Những câu chuyện mua bán, khiếu kiện liên quan đến thương hiệu của các doanh nghiệp trong nước thường chỉ được nhắc đến trong những lúc trà dư tửu hậu, chưa trở thành những bài học kinh nghiệm. Việc định giá thương hiệu, để thương hiệu trở thành tài sản của doanh nghiệp, vẫn đang chờ một cơ sở pháp lý.

Những câu chuyện cũ

Cách đây nhiều năm, việc hãng Unilever mua lại thương hiệu kem đánh răng P/S với giá 5 triệu đô la Mỹ và Colgate mua Dạ Lan với giá 3 triệu đô la đã gây xôn xao dư luận. Năm 1999, chủ nhãn hiệu kẹo dừa Bến Tre, bà Hai Tỏ, đã phải lặn lội sang Trung Quốc khiếu kiện một doanh nghiệp xứ này lấy thương hiệu của mình để đăng ký bảo hộ cho sản phẩm kẹo dừa xuất khẩu. Năm 2001, Công ty Cà phê Trung Nguyên đã phải chi một khoản tiền không nhỏ để lấy lại thương hiệu do một Việt kiều ở Mỹ đã đăng ký nhãn hiệu này trước đó.

Những câu chuyện trên vẫn chưa thể gợi ra những mối quan tâm về thương hiệu từ phía cơ quan quản lý trong thời gian gần đây. Một số doanh nghiệp xin góp vốn bằng thương hiệu, nhưng đã bị Bộ Tài chính từ chối, bởi chuẩn mực kế toán 04 của bộ ban hành không cho phép việc này. Ngay cả khi làn sóng cổ phần hóa doanh nghiệp làm xuất hiện sự lúng túng về việc xác định giá trị thương hiệu cấu thành tài sản doanh nghiệp, thì vẫn chưa có một cơ quan nào đứng ra lo liệu.

Câu chuyện về giá trị thương hiệu chỉ thực sự gây sự chú ý khi tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin làm bùng lên làn sóng góp vốn bằng thương hiệu. Và cũng chính từ đề xuất của Vinashin, Bộ Tài chính mới đưa ra dự thảo thông tư hướng dẫn việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu để lấy ý kiến.

Đọc tiếp

NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN

TS. TRẦN VĂN HẢI – Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) có hiệu lực kể từ 01/7/2006, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật về SHTT và xâm phạm quyền SHTT không hề giảm đi mà vẫn có chiều hướng gia tăng, một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là pháp luật về SHTT có nhiều bất cập. Trong phạm vi bài viết chúng tôi phân tích một số bất cập của pháp luật SHTT hiện hành về quyền tác giả, quyền liên quan và đề xuất việc hoàn thiện.

1. Về thuật ngữ “tác giả” và “đồng tác giả”

Mặc dù Luật SHTT năm 2005, sửa đổi năm 2009 (gọi tắt là Luật) không định nghĩa thuật ngữ “tác giả”, nhưng điều 8 Nghị định 100/2006/NĐ-CP đã quy định: “Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học”, đồng thời Nghị định này không quy định tác giả là pháp nhân, do đó có thể nói rằng tác giả chỉ có thể là cá nhân.

Pháp luật Việt Nam về SHTT cũng không định nghĩa thuật ngữ “đồng tác giả” mà mặc nhiên quan niệm trong trường hợp có từ hai tác giả trở lên cùng sáng tạo nên một tác phẩm thì họ là các đồng tác giả của tác phẩm đó. Quan niệm này chỉ điều chỉnh được mối quan hệ về quyền tài sản đối với tác phẩm giữa các đồng tác giả đối với các trường hợp sau:

– Tác phẩm được coi là đồng sở hữu chung duy nhất;

– Tác phẩm được coi là đồng sở hữu chung theo phần, trường hợp này được điều chỉnh bởi Điều 38 của Luật: các đồng tác giả sáng tạo ra tác phẩm, nếu có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì có các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với phần riêng biệt đó.

Quan niệm quá đơn giản như trên là không phổ quát, bởi lẽ nó không thể điều chỉnh được quyền nhân thân đối với tác phẩm mà các ví dụ sau đây là minh chứng:

Đọc tiếp

BẢO VỆ QUYỀN KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP: LẠI CHUYỆN … “TƯƠNG TỰ”

HOÀNG HOÀNG

Gần đây trên thị trường bánh đậu xanh Hải Dương xuất hiện một loạt bánh của Cty CPTM Rồng vàng Minh Ngọc với kiểu dáng mẫu mã giống hệt kiểu dáng bánh đậu xanh của Cty TNHH Gia Bảo. Điều đáng nói bản quyền về “Hộp đựng bánh” đang được bảo hộ theo Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp số 8633 của Cty TNHH Gia Bảo.

Có xâm phạm?

Ngày 10/8/2009 Cục Sở hữu trí tuệ có Quyết định số 1558/QĐ – SHTT về việc huỷ bỏ Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp đối với Cty CP Rồng vàng Minh Ngọc có trụ sở tại km 6, phường Cẩm Thượng, thành phố Hải Dương. Thế nhưng Cty này vẫn tung ra thị trường sản phẩm bánh đậu xanh có hình thức, kiểu dáng mẫu mã tương tự của Cty TNHH Gia Bảo.

Trên thực tế, kiểu dáng công nghiệp “Hộp đựng bánh” của Cty TNHH Gia Bảo đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp từ tháng 11/ 2005. Trong khi đó tháng 10/ 2007, CTy CP Rồng vàng Minh Ngọc mới có hồ sơ số 3 – 2007 – 00439 gửi đến Cục Sở hữu trí tuệ với nhãn hiệu xin đăng ký là “Cty CP Rồng vàng Minh Ngọc”.

Ngày 5/12/2009 Cty Luật Sở hữu trí tuệ WINCO đại diện cho Cty TNHH Gia Bảo có Văn bản số 765/CV gửi cho Cty CP Rồng vàng Minh Ngọc yêu cầu giải trình một số việc: Chấm dứt ngay kiểu dáng công nghiệp vi phạm “Hộp đựng bánh” đối với Cty TNHH Gia Bảo; thu hồi toàn bộ sản phẩm bánh đậu xanh mang kiểu dáng công nghiệp vi phạm đang lưu hành trên thị trường và đưa ra phương án xử lý đối với số sản phẩm vi phạm này; có công văn chính thức gửi Cty và cam kết việc này không tái phạm.

Đọc tiếp

THỰC TRẠNG, NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ TRONG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN QUAN ĐẾN CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

THANH MAI (Tổng hợp)

Đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN) là một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, nên đã có không ít đối thủ cạnh tranh thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại đến các đối tượng SHCN để thu lợi bất chính trong kinh doanh.

Điều 39 Luật Cạnh tranh xác định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, mà cụ thể là sở hữu công nghiệp; bao gồm:

– Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ;

– Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ

– Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Việt Nam cũng là thành viên, nếu việc sử dụng của người đại diện hoặc đại lý đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng

– Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục địch chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.

Có thể thấy, khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã được mở rộng và làm rõ hơn so với khái niệm “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” (một trong các dạng biểu hiện cụ thể của hành vi cạnh tranh không lành liên quan đến sở hữu trí tuệ) mà Luật Cạnh tranh đã đưa ra trước đây. Đồng thời, để bảo vệ chủ thể bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã quy định để cho các chủ thể này có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự cũng như biện pháp hành chính theo pháp luật về cạnh tranh.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: TRANH CHẤP NHÃN HIỆU BÁNH TRÁNG

ÁI MINH

Vụ việc gây nhiều tranh cãi khiến tòa phải hoãn xử nhiều lần. Phía Công ty TG đã xuất trình được hợp đồng để chứng minh mình sản xuất, xuất khẩu bánh tráng mang nhãn hiệu K’ theo đúng yêu cầu của bên mua hàng.

Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đang chuẩn bị đưa ra xét xử vụ án tranh chấp về nhãn hiệu một mặt hàng bánh tráng ở Tiền Giang.

Gia công theo kiểu dáng của công ty khác

Năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp với sản phẩm bánh tráng hiệu K. kèm ảnh cho Công ty TP. Một năm sau, Công ty TP được Cục cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa trên. Để bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa trên thị trường Mỹ, công ty này tiếp tục đăng ký bảo hộ tại Mỹ sản phẩm bánh K. và được bảo hộ nhãn hiệu cùng kiểu dáng công nghiệp.

Tháng 11-2009, Công ty TP phát hiện trong một số siêu thị ở Mỹ có bày bán mặt hàng bánh tráng hiệu K’ có màu sắc tương tự, khó phân biệt và gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của công ty. Tìm hiểu, Công ty TP biết Công ty TG đã sản xuất số bánh hiệu K’ trên. Qua đối chất, Công ty TG thừa nhận khoảng tháng 9-2009 có xuất sang Mỹ gần 39.000 tấn bánh tráng K’. Nhãn hiệu này do khách hàng bên Mỹ đặt gắn lên bao bì sản phẩm.

Đầu tháng 12-2009, Công ty TP đã nhờ luật sư ở Mỹ gửi công văn khuyến cáo Công ty TG về hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Tháng 2-1010, Công ty TP đã kiện Công ty TG ra TAND tỉnh Tiền Giang để yêu cầu chấm dứt hành vi sản xuất, xuất khẩu loại bánh tráng K’, thu hồi toàn bộ lượng bánh đã xuất khẩu, bán trên thị trường Mỹ.

Công ty TP còn yêu cầu Công ty TG phải xin lỗi công khai ba kỳ liên tiếp trên ba tờ báo. Đồng thời, Công ty TG phải thanh toán các khoản chi phí cho dịch vụ luật sư, gồm 5.000 USD thuê luật sư ở Mỹ và 60 triệu đồng phí thuê luật sư tại Việt Nam, tổng cộng hơn 153 triệu đồng.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 897 other followers

%d bloggers like this: