KHẮC PHỤC MỘT SỐ RÀO CẢN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ MÀ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM SẼ GẶP KHI TPP ĐƯỢC VẬN HÀNH

PGS.TS. TRẦN VĂN HẢI – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Vào năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên của WTO, tổ chức này hiện có tới 162 thành viên[1], vì vậy một trong những nhược điểm của nó là sự khó khăn để tiến đến một thỏa thuận chung liên quan đến bất kỳ vấn đề gì thuộc lĩnh vực thương mại quốc tế, trong đó có SHTT. Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – viết tắt là TPP) khắc phục được nhược điểm này của WTO.

Có 12 nước tham gia đàm phán TPP gồm 4 quốc gia sáng lập là Brunei, Chile, New Zealand, Singapore, sau đó (xếp theo thứ tự thời gian tham gia) là Hoa Kỳ, Australia, Peru, Việt Nam, Malaysia, Mexico, Canada, Nhật Bản.

Ngày 05.10.2015 các nước tham gia đàm phán TPP ký văn bản cuối cùng, TPP là một thỏa thuận toàn diện bao quát tất cả các khía cạnh của một hiệp định thương mại tự do, bao gồm thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, mua sắm công, doanh nghiệp nhà nước, thương mại và lao động, thương mại và môi trường, thương mại điện tử, sở hữu trí tuệ (SHTT),…

Để hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống pháp luật về SHTT, được đánh giá là tương đối tương thích với pháp luật về SHTT của một số quốc gia tiên tiến, nhưng tình trạng xâm phạm quyền SHTT tại Việt Nam vẫn không hề giảm mà đang có xu hướng gia tăng. Bài viết không dẫn chứng những đánh giá của các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam về tình trạng xâm phạm quyền SHTT, xin được phép dẫn nguồn từ Bộ Thương mại Hoa Kỳ.

Trong Báo cáo đặc biệt số 301 trong 2 năm liên tiếp (2014 và 2015), Văn phòng Bộ Thương mại Hoa Kỳ (Office of the United States Trade Representative – USTR) đã xếp Việt Nam vào danh sách các quốc gia đứng đầu thế giới cần ưu tiên theo dõi (Priority Watch List) về tình trạng xâm phạm quyền SHTT.[2]

Như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam đã và sẽ gặp những khó khăn về SHTT trong giao dịch thương mại quốc tế, mà trước hết là trong giao dịch thương mại với các quốc gia TPP, khi hiệp định này được vận hành trong thời ngắn trước mắt.

Đọc tiếp

VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SÁNG KIẾN: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI

TS. NGUYỄN VÂN ANHSở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

NGUYỄN HỒNG HÀ – Vụ phát triển KH&CN địa phương, Bộ KH&CN

ĐÀM QUANG – Sở KH&CN Thanh Hóa

Sáng kiến là kết quả của hoạt động sáng tạo, có ý nghĩa quan trọng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội nói chung và phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) nói riêng. Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp lý nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, tăng cường phạm vi triển khai áp dụng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, còn một số nội dung chưa phù hợp, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các cá nhân, tổ chức liên quan. Bài viết phân tích những nội dung này, với mục đích góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý về sáng kiến để phát huy hơn nữa hoạt động này tại các cơ quan, đơn vị.

Một số quy định về sáng kiến

Sáng kiến là một trong những kết quả của hoạt động KH&CN. Theo Từ điển tiếng Việt, “Sáng kiến (Initiative) là ý kiến mới, có tác dụng làm cho công việc tiến hành tốt hơn” [5]. Để thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong sản xuất, ngay từ đầu những thập niên 80 của thế kỷ trước, Nhà nước đã ban hành Điều lệ về sáng kiến cải tiến kỹ thuật – hợp lý hóa sản xuất và sáng chế, trong đó sáng kiến được hiểu: Sáng kiến cải tiến kỹ thuật – hợp lý hoá sản xuất được công nhận theo Điều lệ này là một giải pháp kỹ thuật hoặc giải pháp tổ chức sản xuất mới, có khả năng áp dụng và mang lại lợi ích thiết thực cho cơ quan, đơn vị (kể cả đơn vị kinh tế tập thể) nhận đăng ký” (Điều 1, Điều lệ về sáng kiến, Nghị định 31 [7]).

Nội dung của sáng kiến được Nghị định 31 [7] quy định là: “Cải tiến kết cấu máy móc, trang bị, công cụ lao động, sản phẩm, cải tiến phương án thiết kế hoặc kết cấu các công trình xây dựng; Cải tiến tính năng, công dụng, thành phần của nguyên liệu, vật liệu hoặc sản phẩm; Cải tiến phương pháp khảo sát, thiết kế, công nghệ, thi công, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi; phương pháp phòng bệnh, chữa bệnh; Cải tiến tổ chức sản xuất nhằm sử dụng hợp lý sức lao động, công cụ lao động, nguyên liệu, vật liệu, năng lượng, tiền vốn…”. Như vậy, mọi hoạt động nêu trên đều thuộc lĩnh vực kỹ thuật. Theo Nghị định 31 [7], tác giả sáng kiến được hưởng quyền lợi như sau: “1. Các cơ quan, đơn vị Nhà nước, các đơn vị kinh tế tập thể khi áp dụng sáng kiến và thu lợi, có nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả; 2. Mức thù lao cho tác giả sáng kiến được tính trong năm áp dụng đầu tiên và không thấp hơn 5% số tiền làm lợi thu được trong năm đó” (Điều 40, Nghị định 31). Tại thời điểm ban hành, Nghị định 31 được coi là bước đột phá, kích thích việc không ngừng đổi mới sáng tạo đối với người lao động. Nhờ đó hình thành nên phong trào sáng kiến trong sản xuất diễn ra trong các nhà máy, xí nghiệp. Từ đó, họat động sáng kiến trở thành tiêu chí chung trong phong trào thi đua yêu nước, đặc biệt trong hoạt động của tổ chức công đoàn.

Đọc tiếp

BÀN VỀ KHÁI NIỆM CÔNG NGHỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG LUẬT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

TS. NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

Tóm tắt:

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam số 22 năm 2014 đăng tải bài viết: “Luật chuyển giao công nghệ và những vướng mắc cần sửa đổi” của tác giả Đỗ Thị Bích Ngọc – Bộ KH&CN, nêu lên những bất cập của Luật chuyển giao công nghệ (CGCN) và hướng sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới. Nội dung bài viết sau đây tiếp tục đề cập đến những điểm chưa phù hợp, trong đó tập trung chủ yếu về khái niệm công nghệ, chuyển giao công nghệ được quy định trong Luật CGCN và hướng sửa đổi để bạn đọc cùng bàn bạc, trao đổi nhằm góp phần hoàn thiện Luật CGCN trong thời gian tới.

1. Khái niệm công nghệ

Theo Luật CGCN: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” (Điều 3.2, Luật CGCN). Khái niệm công nghệ của Luật CGCN, cũng trùng với khái niệm công nghệ, nêu tại Điều 3.2, Luật KH&CN năm 2013. Trong đó, khái niệm “Bí quyết kỹ thuật” được Luật CGCN diễn giải: “Bí quyết kỹ thuật là thông tin được tích luỹ, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu công nghệ có ý nghĩa quyết định chất lượng, khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ” (Điều 3.1, Luật CGCN). Từ khái niệm này của Luật CGCN, chúng ta liên hệ đến khái niệm “Bí mật kinh doanh”, một đối tượng được bảo hộ độc quyền trong Luật Sở hữu trí tuệ: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh” (Điều 4.23, Luật Sở hữu trí tuệ). “Bí quyết kỹ thuật” thuộc tập hợp “Bí mật kinh doanh”, vì đều là thông tin thu được từ hoạt động kinh doanh, kết tinh của lao động bằng trí tuệ, có khả năng sử dụng được trong kinh doanh và các lĩnh vực khác. Mặc dù “Bí quyết” và “Bí mật” cũng mang hàm nghĩa tương đồng, là những thông tin được giấu kín. Tuy nhiên, nội hàm của “Bí quyết kỹ thuật” hẹp hơn “Bí mật kinh doanh”. Vì “Bí mật kinh doanh” ngoài “Bí quyết kỹ thuật” tương ứng với các giải pháp kỹ thuật, còn những bí quyết khác không phải kỹ thuật gắn với hoạt động trong quá trình tổ chức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, bên cạnh các đối tượng được bảo hộ buộc phải bộc lộ thông tin thì “Bí mật kinh doanh” là hình thức bảo hộ theo cơ chế đặc biệt, do chủ sở hữu tự bảo vệ che giấu thông tin.

Đọc tiếp

BÀN VỀ SỬA ĐỔI LUẬT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TIẾP CẬN TỪ SO SÁNH VỚI LUẬT KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TS. NGUYỄN VÂN ANH Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

Tóm tắt:

Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN) ra đời năm 2006, có nhiều điểm mới so với các văn bản quy phạm pháp luật ban hành trước đó. Tuy nhiên, tới thời điểm hiện nay, Luật CGCN còn một số điểm chưa phù hợp cần chỉnh sửa, bổ sung, trong đó có cả các nội dung liên quan đến Luật Khoa học và Công nghệ (KH&CN). Tiếp theo những vấn đề được phân tích ở số báo trước, nội dung bài viết sau đây là những nội dung trao đổi cần được xem xét nhằm hoàn thiện Luật CGCN trong thời gian tới.

Năm 2006, Luật CGCN được ban hành, tạo nên một hàng lang pháp lý quan trọng về hoạt động CGCN. Luật được hình thành trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh số 10/LCT/HĐNN ngày 10/12/1988 của Hội đồng Nhà nước về CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam, Bộ Luật dân sự năm 1995 và sửa đổi, bổ sung năm 2005. Mặc dù, Luật CGCN quy định nhiều vấn đề về CGCN, nhưng tư tưởng chủ yếu, Luật CGCN – 2006, đưa ra các quy định, hướng vào luồng CGCN từ nước ngoài vào trong nước. Trong bối cảnh, trình độ công nghệ trong nước còn nhiều hạn chế, Luật CGCN có tác dụng mở đường cho việc đổi mới công nghệ, giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đáp ứng xu thế hội nhập quốc tế.

Do hoạt động CGCN liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, vì vậy, ngoài luật CGCN, hoạt động CGCN còn chịu tác động điều chỉnh của một số Luật khác liên quan, trong đó có Luật KH&CN [4]. Luật KH&CN là đạo luật cơ bản trong hoạt động KH&CN, được sửa đổi và ban hành năm 2013. Nội dung Luật được kế thừa các quy định của Luật KH&CN năm 2000, bổ sung thêm nhiều điểm mới về cơ chế, chính sách đầu tư cho KH&CN, tổ chức KH&CN, hợp đồng KH&CN… từng bước hoàn thiện, phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Phạm vi điều chỉnh của hai Luật nói trên cơ bản là khác nhau. Luật KH&CN “Quy định về tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN; việc tổ chức thực hiện hoạt động KH&CN; biện pháp bảo đảm phát triển KH&CN; quản lý nhà nước về KH&CN” (Điều 1, Luật KH&CN). Phạm vi điều chỉnh của Luật CGCN “Quy định về hoạt động CGCN tại Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài, từ nước ngoài vào Việt Nam; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động CGCN; thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước; các biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động CGCN” (Điều 1, Luật CGCN). Tuy nhiên, giữa hai Luật có một số điểm chung, đó là cùng liên quan đến công nghệ, đặc biệt là công nghệ nội sinh hình thành từ quá trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R&D), thương mại hoá kết quả R&D,… Bên cạnh mặt tích cực, có những quy định bổ sung, hỗ trợ phát triển KH&CN, còn có một số điểm chưa phù hợp, làm cho quá trình triển khai áp dụng gặp không ít khó khăn. Nội dung cụ thể, được thể hiện tại một số điểm chính như sau:

Đọc tiếp

DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

TS. NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

NGUYỄN HỒNG HÀ – Vụ Phát triển KH&CN Địa phương, Bộ KH&CN

THS. LÊ VŨ TOÀN – Trường quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

Phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước ta đặt ra và quyết tâm triển khai thực hiện. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay, việc phát triển doanh nghiệp KH&CN ở nước ta còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Bài viết nêu tổng quan tình hình phát triển doanh nghiệp KH&CN trong bối cảnh hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển của loại hình doanh nghiệp đặc thù này ở nước ta trong thời gian tới.

1.Khái niệm doanh nghiệp KH&CN và điều kiện cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN

Doanh nghiệp KH&CN xuất hiện trên thế giới từ khoảng giữa thế kỷ XX, xuất phát từ mô hình spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn) và start-up (doanh nghiệp khởi nghiệp) được hình thành ở các nước công nghiệp phát triển. Spin – off được khởi nguồn từ Trường đại học (tách ra hoạt động độc lập từ các Trường đại học), do các cá nhân tạo ra các tài sản KH&CN tham gia vào quá trình quản lý của doanh nghiệp. Start – up chỉ sự khởi nghiệp của một doanh nghiệp mới hình thành trên nền tảng kết quả KH&CN[31],[33]. Mặc dù có sự khác nhau giữa spin-off và start-up, nhưng giữa chúng đều có đặc điểm chung là: (1) Khởi đầu một doanh nghiệp mới dựa trên kết quả KH&CN; (2) Doanh nghiệp có khả năng thực hiện đổi mới và thương mại hóa các kết quả KH&CN để sản xuất các loại sản phẩm mà người tiêu dùng có nhu cầu.

Để khuyến khích các spin –off, start-up phát triển, chính phủ các quốc gia trên thế giới đều có những chính sách hỗ trợ phát triển, như khuyến khích thành lập các Vườn ươm công nghệ, các trung tâm chuyển giao công nghệ, văn phòng cấp phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ, thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư thiên thần (angel fund) – quỹ đầu tư cá nhân,…. [31],[32],[33] để hỗ trợ các doanh nghiệp KH&CN hình thành và phát triển. Theo số liệu của Hiệp hội các trường đại học quản lý công nghệ Mỹ (AUTM), trong giai đoạn 1980-2000, Mỹ có 3.376 doanh nghiệp KH&CN (spin offs) tại các trường đại học. Tốc độ gia tăng ngày càng mạnh mẽ trong những năm gần đây. Tại Anh, có 1.307 doanh nghiệp KH&CN tại các trường đại học trong năm 2007, với sự bổ sung 219 doanh nghiệp KH&CN từ 163 trường đại học trong năm 2008. Tốc độ tăng hàng năm khoảng 70 doanh nghiệp KH&CN từ 102 trường đại học tại Vương quốc Anh [35].

Đọc tiếp

TÍNH MỚI TRONG VIỆC BẢO HỘ SÁNG CHẾ ĐỐI VỚI CÁC BÀI THUỐC CỔ TRUYỀN CỦA VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Chính sách phát triển y học cổ truyền được Nhà nước ta quan tâm, gần đây nhất Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2166 QĐ/TTg ngày 30.11.2010 Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y, dược học cổ truyền Việt Nam đến năm 2020.

Xét về giá trị kinh tế do y học cổ truyền mang lại, tại Việt Nam, trong năm 2003 đã tập hợp được 39.381 bài thuốc cổ truyền, sản lượng xuất khẩu bài thuốc cổ truyền đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu 10-20 triệu USD.[1]

Trong một nghiên cứu của Correa Carlos M. vào năm 2002 cho thấy, trên thế giới tổng giá trị mà thị trường thuốc cổ truyền mang lại vào khoảng 60 tỷ USD/năm với mức tăng trưởng hàng năm đạt từ 5% đến 15%.[2] Nghiên cứu của Xuezhong ZHU cho biết, chỉ trong năm 2007 Trung Quốc đã thu 15 tỷ USD do xuất khẩu dược liệu cổ truyền.[3]

Trên thế giới, cuộc chiến pháp lý để xác định chủ sở hữu đối với các bài thuốc cổ truyền đang diễn ra gay gắt giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia phát triển, ước tính rằng mỗi năm có khoảng 2.000 patent liên quan đến bài thuốc cổ truyền của Ấn Độ đã được cấp do sai lầm của các cơ quan sáng chế trên toàn thế giới, trong đó chỉ tính riêng tại Brussels đã cấp 285 patent liên quan đến bài thuốc cổ truyền của Ấn Độ.[4]

Tại Việt Nam, theo thống kê từ 1998 đến cuối 2012, Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) mới chỉ nhận 69 đơn đăng ký sáng chế đối với bài thuốc cổ truyền, bao gồm cả đơn của cá nhân/tổ chức từ Việt Nam và từ nước ngoài, trong đó số đơn bị từ chối chiếm tỷ lệ không nhỏ.

Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, bài viết này đặt mục tiêu nghiên cứu đề xuất các giải pháp để bảo hộ hữu hiệu các bài thuốc cổ truyền của Việt Nam.

Giới hạn nghiên cứu thuộc lĩnh vực y học cổ truyền trong bài viết này bao gồm các bài thuốc cổ truyền có nguồn gốc thảo dược (gọi tắt là bài thuốc cổ truyền).

Đồng thời để cho gọn, chúng tôi sử dụng thuật ngữ patent với hàm nghĩa là bằng độc quyền sáng chế (mặc dù còn có nhiều ý kiến khác nhau về thuật ngữ này).[5]

Đọc tiếp

BÀN VỀ TRÌNH ĐỘ SÁNG TẠO TRONG VIỆC BẢO HỘ SÁNG CHẾ ĐỐI VỚI CÁC BÀI THUỐC CỔ TRUYỀN CỦA VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Trong một nghiên cứu đăng trên Chuyên san Luật học của Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội[1] tác giả đã bàn về tính mới trong việc bảo hộ sáng chế đối với các bài thuốc cổ truyền của Việt Nam, trong bài viết này tác giả xin bàn đến trình độ sáng tạo – một trong 3 điều kiện để bài thuốc cổ truyền được cấp bằng độc quyền sáng chế.

Trước hết, để cho gọn tác giả xin quy ước về các thuật ngữ được sử dụng trong bài viết này, bao gồm:

Y học cổ truyền (Traditional Medicine): theo cách phân loại của Tổ chức Sở hữu trí tuệ (SHTT) Thế giới – WIPO thì y học cổ truyền là một bộ phận của tri thức truyền thống (Traditional Knowledge)[2].

Bài thuốc cổ truyền: trong bài viết của Jerry I. và H. Hsiao thuộc Viện Nghiên cứu SHTT Queen Mary thuộc Đại học London (Queen Mary Intellectual Property Research Institute, University of London) đã phân loại các bài thuốc thảo dược (Herbal Medicine) là một trong những bộ phận thuộc y học cổ truyền[3]. Do đó, giới hạn nghiên cứu thuộc lĩnh vực y học cổ truyền trong bài viết này bao gồm các sang chế lien quan đến bài thuốc cổ truyền (gọi tắt là bài thuốc cổ truyền).

Patent chỉ dùng với hàm nghĩa duy nhất là bằng độc quyền sáng chế bài thuốc cổ truyền có nguồn gốc thảo dược.

Như đã biết, theo quy định của pháp luật, bài thuốc cổ truyền không thể được cấp patent nếu nó bị coi là không đạt trình độ sáng tạo, tuy nhiên thuật ngữ “trình độ sáng tạo” lại được pháp luật mỗi quốc gia quy định theo cách riêng của mình, miễn là quy định này không mâu thuẫn với quy định quốc tế. Nhưng “cái biên” của quy định quốc tế về trình độ sáng tạo lại quá rộng, dẫn đến bài thuốc cổ truyền có thể không đạt trình độ sáng tạo theo quy định của pháp luật quốc gia này, nhưng lại được cấp patent tại quốc gia khác vì pháp luật của quốc gia đó coi nó đạt trình độ sáng tạo.

Xét về khía cạnh kinh tế của quyền SHTT thì việc cấp hay không cấp patent cho bài thuốc cổ truyền, thực chất là cuộc chiến pháp lý giữa một bên là các quốc gia phát triển với xu hướng độc quyền hóa các bài thuốc cổ truyền bằng cách cấp patent cho chúng, bên còn lại là các quốc gia đang phát triển – nơi lưu giữ nhiều bài thuốc cổ truyền với việc chống lại xu hướng trên.

Đọc tiếp

BÀN VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP

TS. NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

ThS LÊ VŨ TOÀN – Trường Quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

Hiện nay tổng đầu tư cho khoa học và công nghệ (KH&CN) ở nước ta đạt mức 0,6% GDP, trong đó, chủ yếu từ ngân sách nhà nước (0,5% GDP). Mức đầu tư này hiện đang thấp hơn rất nhiều so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới (năm 2010, Nhật Bản đầu tư cho KH&CN là 3,3% GDP, Hàn Quốc là 3%, Mỹ 2,7%, Đức 2,3%, Singapore 2,2%). Do vậy, việc gia tăng tỷ lệ đầu tư cho KH&CN, đặc biệt, việc huy động từ phía doanh nghiệp là vấn đề quan trọng đang được đặt ra. Một trong những hình thức huy động được áp dụng là khuyến khích doanh nghiệp thành lập Quỹ phát triển KH&CN để phục vụ cho việc đổi mới công nghệ tại chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc thành lập loại hình Quỹ này ở nước ta hiện còn gặp nhiều khó khăn, cần có những giải pháp tháo gỡ kịp thời.

Đặt vấn đề

Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp là một trong những loại hình Quỹ được đề cập đầu tiên tại nước ta trong Luật KH&CN [1] năm 2000. Điều 38.2 Luật KH&CN quy định: “Doanh nghiệp được lập Quỹ phát triển KH&CN để chủ động đầu tư phát triển KH&CN”. Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN) (2006) [2], Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (2008) [3] tiếp tục bổ sung và đưa ra những quy định cụ thể. Trên cơ sở quy định của các Luật trên, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể: Quyết định 36 [4], Thông tư 15 [5], Thông tư 105 [6]. Có thể nói, đây là các văn bản pháp lý quan trọng để Quỹ hình thành và đi vào hoạt động.

Tuy nhiên, theo Báo cáo tại Hội thảo về việc triển khai thực hiện Quỹ trên địa bàn tỉnh Bình Phước ngày 26.4.2013 [7]: “Việc hình thành Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp hiện nay đang gặp nhiều khó khăn, ít về số lượng (khoảng 15%), lại không đồng đều, như tại Bình Phước có doanh nghiệp trích 10% lợi nhuận trước thuế chỉ được khoảng 20 triệu đồng, có doanh nghiệp lại lên đến 189 tỷ đồng”.

Tại Bà Rịa – Vũng Tàu, tính đến tháng 7/2013 có 5 doanh nghiệp/hơn 8.000 doanh nghiệp thành lập Quỹ. Thành phố Hồ Chí Minh có 49 doanh nghiệp có Quỹ được hình thành. Trong đó có 26 doanh nghiệp đã trích lập quỹ với tổng cộng 346,8 tỷ đồng nhưng mới sử dụng hết 117,8 tỉ đồng (chiếm 33,9% tổng số tiền); số đơn vị chưa trích lập quỹ là 23 doanh nghiệp do mới lập Quỹ [8]. Tỷ lệ trích lập Quỹ tại 2 địa phương này từ 5 đến 10%, thời gian Quỹ được thành lập chỉ 1-3 năm trở lại đây. Qua tìm hiểu thực tế tại các doanh nghiệp và các quy định về Quỹ đã ban hành, nhận thấy có 2 vấn đề quan trọng cần phải quan tâm giải quyết. Đó là:

Đọc tiếp

MỘT SỐ Ý KIẾN TRAO ĐỔI LIÊN QUAN ĐẾN THUẬT NGỮ “THẨM ĐỊNH/THẨM TRA CÔNG NGHỆ”

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

LÊ VŨ TOÀN- Trường quản lý KH&CN

ĐÀM QUANG – Sở KH&CN Thanh Hoá

HOÀNG THANH HẠNH – Học viện Tài chính

Thẩm định công nghệ nói chung và thẩm định công nghệ dự án đầu tư nói riêng là một trong nhiệm vụ trong công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực KH&CN ở cấp trung ương (Bộ KH&CN) cũng như địa phương (Sở KH&CN). Tuy nhiên, liên quan đến thuật ngữ này còn nhiều vấn đề phải bàn, nhằm tiến tới việc sử dụng nhất quán trong các văn bản quản lý nhà nước cũng như cách thức tổ chức thực hiện.

Dẫn nhập

Thuật ngữ “Thẩm định công nghệ ” được sử dụng lần đầu tiên trong văn bản quản lý nhà nước về KH&CN tại Thông tư số 1940/1997/TT-BKHCNMT ngày 15. 11.1997 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ KH&CN) hướng dẫn thẩm định công nghệ các dự án đầu tư trong giai đoạn xem xét cấp giấy phép đầu tư (Thông tư 1940). Căn cứ xây dựng Thông tư 1940 là các Nghị định 12[1], 29[2], 42[3] – những văn bản quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài và thực hiện Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng.

Thông tư 1940 đưa ra khái niệm: “Thẩm định công nghệ các dự án đầu tư" (gọi tắt là thẩm định công nghệ) nói trong thông tư này được hiểu là quá trình xem xét, đánh giá sự thích hợp của công nghệ đã nêu trong dự án so với nội dung và các mục tiêu của dự án đầu tư trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Nhà nước tại thời điểm thẩm định dự án để đưa ra kiến nghị về việc cấp giấy phép đầu tư cho dự án”. Trên cơ sở Thông tư 1940, công tác thẩm định công nghệ, đã giúp ngăn chặn được nhiều công nghệ lạc hậu, ẩn mình trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Đồng thời, quá trình thẩm định công nghệ cũng đã giúp các nhà đầu tư trong nước lựa chọn được công nghệ mới tiên tiến hoặc thay đổi phương án công nghệ làm lợi cho chủ dự án đầu tư trong nước có khi lên đến hàng chục triệu USD. Một trong những dự án đó là Nhà máy điện Phú Mỹ thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Năm 2002, sau khi có các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, quy chế quản lý đầu tư và xây dựng có sự thay đổi bởi các Nghị định 24[4], 51[5], 52[6], đồng thời nhằm thực thi Nghị định 175[7], Thông tư 55/2002/TT-BKHCNMT ngày 23 tháng 7 năm 2002 về hướng dẫn thẩm định công nghệ và môi trường các dự án đầu tư (Thông tư 55) ra đời thay thế cho Thông tư 1940. Theo đó, khái niệm về thẩm định công nghệ và các nội dung về thẩm định công nghệ vẫn được giữ nguyên, chỉ có một số thay đổi nhỏ liên quan đến việc đánh giá ảnh hưởng của dự án đối với môi trường gắn với nội dung thẩm định môi trường dự án.

Đọc tiếp

KHẮC PHỤC NHỮNG BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRÍ TUỆ

THS. HOÀNG LAN PHƯƠNG -  Bộ môn Sở hữu trí tuệ, Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học KHXH&NV

Tóm tắt:

Hoạt động định giá TSTT ở Việt Nam diễn ra từ khá lâu trước khi Luật SHTT ra đời năm 2005 song cho đến hiện nay việc định giá TSTT này vẫn chưa tuân theo một chuẩn mực nào. Điều này xuất phát từ việc các văn bản pháp luật về lĩnh vực này còn khá sơ sài và chồng chéo. Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về định giá TSTT hầu như không điều chỉnh trực tiếp vấn đề định giá TSTT mà chỉ đề cập tới các quy định mang tính chất nguyên tắc về cách thức tính toán (dựa trên sổ sách) của tài sản vô hình – trong đó bao gồm các TSTT. Ngay cả các văn bản pháp lý chuyên ngành về SHTT như Luật SHTT và các Nghị định hướng dẫn thi hành cũng chưa có một quy định liên quan đến việc định giá TSTT. Để việc định giá TSTT ở Việt Nam trong thời gian tới được đồng bộ thì cần có một văn bản pháp lý thống nhất khắc phục những bất cập của pháp luật về định giá tài sản vô hình nói chung và TSTT nói riêng hiện nay là một điều tất yếu.

1. Dẫn nhập

Đối với các doanh nghiệp, tài sản trí tuệ (TSTT) đóng vai trò là thước đo hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh và khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Việc định giá TSTT giúp các doanh nghiệp khẳng định được vị thế, uy tín trên thị trường, đồng thời doanh nghiệp có thể tiến hành thương mại hóa được các TSTT một cách thuận lợi. Tuy nhiên, việc định giá TSTT ở Việt Nam còn chưa tuân theo một chuẩn mực nào. Điều này có thể thấy rõ khi năm 1995, nhãn hiệu kem đánh răng “P/S” đã được định giá 5 triệu USD trong thương vụ chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu của công ty Hóa mỹ phẩm Phong Lan cho Tập đoàn Unilever của Anh – Hà Lan hay nhãn hiệu kem đánh răng "Dạ Lan" của Tổ hợp Sơn Hải cũng được hãng Colgate (Hoa Kỳ) định giá 3 triệu USD [1]. Song sau 14 năm, vào năm 2009, giá trị của nhãn hiệu TISCO của công ty Gang thép Thái Nguyên chỉ được định giá 39,5 tỷ đồng khi cổ phần hóa doanh nghiệp (chưa bằng 3% tổng giá trị tài sản – 1084 tỷ đồng) [2]. Ngoài ra, còn có nhiều doanh nghiệp khi cổ phần hóa cũng chưa thực sự chú trọng việc tính giá trị của các TSTT vào giá trị của doanh nghiệp để cổ phần hóa như Kem Tràng Tiền hay Bánh tôm Hồ Tây…

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 883 other followers

%d bloggers like this: