CÔNG NHẬN ÁN LY HÔN Ở NƯỚC NGOÀI: ÁCH TẮC VÌ … VƯỚNG LUẬT!

BÌNH MINH

Từ sau ngày Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 có hiệu lực, chuyện công nhận, cho thi hành bản án ly hôn của tòa án nước ngoài tại Việt Nam đều gặp bế tắc.

Gần đây, ngành tòa án đã nhận được khá nhiều đơn yêu cầu công nhận, cho thi hành bản án ly hôn ở nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, các trường hợp này hiện đều đang bị ách tắc bởi vướng quy định, thiếu hướng dẫn…

Hơn ba năm kết hôn với một Việt kiều Mỹ, chị GNP ngụ quận 10 (TP.HCM) luôn phải sống trong cảnh vò võ chờ đợi bởi người chồng chủ yếu làm ăn ở Mỹ, lâu lâu mới bay về nước thăm chị một lần.

Bao giờ mới thành người độc thân?

Xa mặt cách lòng, những chuyến bay về nước ít ỏi ấy rồi cứ thưa thớt dần. Một ngày, chị P. nhận được hồ sơ thỏa thuận ly hôn gửi về. Chị P. thuận tình ký tên để giải phóng cho đôi bên. Năm 2009, Tòa Thượng thẩm bang California, hạt San Bernardino sau đó đã ra bản án ghi nhận quyết định ly hôn của vợ chồng chị.

Sau đó, chị P. làm đơn gửi Bộ Tư pháp yêu cầu công nhận bản án ly hôn trên có hiệu lực thi hành tại Việt Nam. Đơn của chị cùng các tài liệu liên quan được chuyển về TAND TP.HCM. Xem xét, TAND TP nhận định: Khoản 1 Điều 344 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định yêu cầu công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa nước ngoài chỉ được xem xét trong trường hợp cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành án tại Việt Nam vào thời điểm gửi đơn yêu cầu. Ở đây, người chồng đang cư trú tại Mỹ nên chị P. chưa đủ điều kiện để yêu cầu tòa công nhận và cho thi hành bản án. Vì vậy, tòa đã đình chỉ giải quyết yêu cầu của chị P.

Để gỡ vướng cho chị P., cán bộ tòa hướng dẫn chị nộp đơn tiến hành thủ tục ly hôn ở tòa án trong nước. Để mọi việc thuận lợi, chị nên liên hệ với người chồng bên Mỹ để có sự thuận tình xác nhận. Còn nếu chị đơn phương xin ly hôn thì sẽ phải chờ thủ tục ủy thác tư pháp, vốn rất lâu và cũng rất khó suôn sẻ.

Chị P. làm theo hướng dẫn này nhưng không thể liên hệ được với người chồng bên Mỹ để làm thủ tục thuận tình ly hôn. Chị mệt mỏi vì “chồng không có” mà mình thì vẫn chưa được trở thành người độc thân, không biết bao giờ mới có điều kiện để xây dựng một mái ấm mới hợp pháp.

Đọc tiếp

NHÌN LẠI VẤN ĐỀ HÔN NHÂN QUỐC TẾ THƯƠNG MẠI HÓA GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC

NGUYỄN NGỌC TUYỀN – Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

1. Đặt vấn đề
Gần hai mươi năm đã trôi qua kể từ ngày chính phủ hai nước Việt Nam – Hàn Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ (22/12/1992). Trong khoảng thời gian đó, mối quan hệ giữa hai nước đã có những chuyển biến rất sinh động, tích cực và đạt được nhiều thành quả trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật… Trên lĩnh vực kinh tế, các nhà đầu tư, kinh doanh Hàn Quốc đã tìm đến Việt Nam như một thị trường mới mẻ, đầy hứa hẹn. Nắm bắt tiềm năng này, Hàn Quốc đã nhanh chóng trở thành nhà đầu tư và là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Đồng thời, trong nhiều năm trở lại đây, Hàn Quốc cũng là thị trường thu hút nhiều lao động xuất khẩu của nước ta. Về mặt văn hóa xã hội, quan hệ trao đổi hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực văn hóa – giáo dục, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, mang lại những hiệu quả thiết thực. Làn sóng văn hóa Hàn Quốc (Hallyu) với mục tiêu truyền bá hình ảnh văn hóa Hàn Quốc ra thế giới đã ồ ạt tràn vào Việt Nam và được giới trẻ Việt Nam tiếp nhận mạnh mẽ… Có thể nói, dấu ấn Hàn Quốc để lại đối với xã hội Việt Nam trong gần hai mươi năm quan hệ ngoại giao là rất lớn. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, mặt tốt cũng nhiều, nhưng mặt xấu cũng không ít. Trên thực tế, đi cùng với những thành tựu trong quan hệ giữa hai nước là không ít những vấn đề xã hội nảy sinh và ngày càng trở thành những điểm nóng thu hút sự quan tâm của dư luận Việt Nam, Hàn Quốc. Trong đó, thiết nghĩ vấn đề cấp thiết hơn cả và cần sự quan tâm nhiều hơn từ chính phủ và xã hội hai đất nước chính là vấn đề môi giới hôn nhân quốc tế giữa cô dâu Việt Nam với đàn ông Hàn Quốc.

2. Vài nét về thực trạng môi giới kết hôn thương mại giữa phụ nữ Việt Nam và đàn ông Hàn Quốc

Từ vài năm trở lại đây, thỉnh thoảng báo chí Việt Nam và Hàn Quốc lại gây xôn xao dư luận của hai xã hội với những bài báo viết về những vụ việc đau lòng xảy ra đối với một số cô dâu Việt Nam bất hạnh trên xứ người. Cô dâu Việt Nam tự tử do không tìm được lối thoát cho mình trong cuộc hôn nhân với người chồng Hàn Quốc. Cô dâu Việt Nam bị chồng đánh đập tàn nhẫn đến chết… Trong suốt năm 2008, xã hội Việt Nam lẫn Hàn Quốc đều tỏ ra rất bất bình trước vụ việc cô dâu Việt Nam bị nhà chồng tước  đoạt quyền nuôi con, không cho cô  được tiếp xúc với hai  đứa con của mình ngay sau khi cô sinh xong. Và gần đây nhất là vụ việc cô dâu Thạch Thị Hồng Ngọc đã bị chồng, vốn là người có vấn đề về thần kinh, đâm chết vào ngày 8/7/2010 tại thành phố Busan.

Đọc tiếp

LẤY CHỒNG XA XỨ: CẦN CÓ CÁI NHÌN TỈNH TÁO VÀ CÔNG BẰNG

PGS.TS NGUYỄN MINH HOÀ

Hôn nhân dị chủng (khác chủng tộc, quốc gia) hay hôn nhân quốc tế là chuyện xưa như trái đất. Nhưng từ những năm 1980 trở lại đây nó phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá, giao lưu văn hoá và hội nhập kinh tế.

Bản thân các quốc gia chỉ có một dân tộc luôn đề cao sự “thuần chủng giống nòi”, tỏ ra rất dị ứng đối với hôn nhân dị chủng như Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc nay cũng phải mở cửa chấp nhận hôn nhân từ bên ngoài do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có lý do thiếu nguồn lực lao động và chênh lệch giới tính.

Phụ nữ Việt Nam bắt đầu lấy chồng Đài Loan năm 1992, rộ lên từ năm 1994 (530 người), cao điểm nhất năm 2000 là 16.000 người, cho đến nay số phụ nữ lấy chồng Đài Loan là khoảng 58.000 người, nhưng từ 2005 bắt đầu giảm xuống và phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc tăng lên, đến nay khoảng 25.000 người. Trước hiện tượng có nhiều phụ nữ không tìm được hạnh phúc ở xứ người, có người phải bỏ trốn, bị hành hạ, bị qua tay nhiều người, thậm chí phải tự tử, xã hội có nhiều luồng ý kiến khác nhau, trong đó đa phần tỏ ra thương hại, trách móc và có cả lên án, phỉ nhổ. Chúng ta hãy bình tĩnh để nhìn nhận lại hiện tượng này.

Cần có cái nhìn công bằng hơn

Theo nghiên cứu của GS Phan An thì khoảng 9% phụ nữ Việt Nam thất bại trong hôn nhân với người Đài Loan. Còn ông David Ngô, chủ nhiệm văn phòng kinh tế – văn hoá Đài Bắc tại TP.HCM đưa ra còn số là 8%. Tương tự GS Kim Hyun-jae thuộc trường đại học Youngsan đánh giá khoảng 7% phụ nữ Việt Nam không hạnh phúc khi lấy chồng Hàn Quốc.

Như vậy con số gia đình không hạnh phúc trong hôn nhân dị chủng là dưới 10%. Nhưng chúng ta cần biết con số này chắc chắn thấp hơn nhiều so với gia đình Việt Nam không hạnh phúc. Từ sau đổi mới số gia đình ly hôn tăng nhanh, có nghiên cứu đáng tin cậy là khoảng 17%, phụ nữ bị bạo hành trong gia đình dưới nhiều hình thức khác nhau là khá cao, bất bình đẳng giới còn khá phổ biến. Như thế có thể khẳng định là số phụ nữ bất hạnh do hôn nhân với người nước ngoài không cao hơn trong nước, thế nhưng tại sao lại trở thành một hiện tượng được xã hội quan tâm, có lẽ bởi vì cũng một hành động bị đối xử tệ như nhau thì đối với người phụ nữ Việt Nam ở trong nước còn cha mẹ, anh em, bà con xóm giềng, các hội đoàn trợ giúp, còn ở nước ngoài thì họ thân cô, thế cô và hầu hết là không biết tiếng cho nên tình cảnh càng trở nên bi thảm hơn.

Đọc tiếp

GIA NHẬP CÔNG ƯỚC LAHAYE 1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ

THS. NGUYỄN BÁ BÌNH – Đại học Luật Hà Nội

Xen lẫn trong những câu chuyện kinh doanh của thời hội nhập, nuôi con nuôi quốc tế (International Adoption) – một nội dung trọng yếu của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài – đang ngày càng trở nên gần gũi với người Việt Nam. Tuy thế, một khuôn khổ pháp lý để bảo đảm các quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ được nhận nuôi dường như vẫn còn chưa đủ. Với tính chất quốc tế của loại hình cho và nhận con nuôi này, pháp luật quốc gia Việt Nam – dù đã có một loạt quy định điều chỉnh – cũng khó lòng vươn tới nơi xứ người để chở che cho con trẻ nước mình.

Sự lựa chọn tích cực và đầy hiệu lực cho những vấn đề toàn cầu, trong đó có con nuôi quốc tế chính là ký kết, tham gia những thỏa thuận song và đa phương. Gia nhập Công ước Lahaye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (Công ước Lahaye 1993), đang là một yêu cầu cấp bách đối với Việt Nam hiện nay.

1. Tính cấp bách của việc gia nhập Công ước Lahaye 1993

Thực trạng việc cho và nhận con nuôi quốc tế ở Việt Nam

Về mặt lý thuyết, việc nuôi con nuôi quốc tế có thể diễn ra theo hai chiều: thứ nhất, cho người nước ngoài (hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài) nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi; thứ hai, công dân Việt Nam xin nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi. Thực tiễn cho thấy, việc cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phổ biến hơn. Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Tư pháp, chỉ trong 5 năm (từ 1994 -1999) có tới 9.322 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi; trong đó số trẻ em làm con nuôi tại Pháp là 3.407, chiếm trên 1/3 trẻ được nhận làm con nuôi tại Pháp (1). Tính trung bình cho đến nay, mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi (2) và số trẻ em được nhận mỗi năm một tăng cao. Như vậy, rõ ràng nhu cầu về việc nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi của người nước ngoài là rất lớn và đang tiếp tục phát triển. Xét về nguồn trẻ em, Việt Nam là một đất nước đông dân – với trên 85 triệu người – hiện có tới trên dưới 27% dân số là trẻ em (chỉ mới tính từ 14 tuổi trở xuống)(3), trong đó, số lượng trẻ em ở vào hoàn cảnh khó khăn như tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không nơi nương tựa… chiếm một tỉ lệ khá lớn. Nhu cầu về một mái ấm gia đình, về những điều kiện tốt đẹp về vật chất lẫn tinh thần cho những đứa trẻ là rất đáng quan tâm. Vì vậy, việc xem xét để giải quyết cho và nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài không chỉ là đòi hỏi nhằm đáp ứng nhu cầu của người nước ngoài, mà hơn hết, chính là nhằm góp phần tạo dựng cuộc sống tốt đẹp cho trẻ em Việt Nam.

Đọc tiếp

CÔNG VĂN SỐ 95/VPCP- KGVX NGÀY 06/01/2009 CỦA VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Kính gửi:

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ;
– Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Xét đề nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (báo cáo số 87/BC-UBND ngày 11 tháng 8 năm 2008 ) và ý kiến của Bộ Công an (công văn số 1947/BCA-A11 ngày 05 tháng 9 năm 2008 ), Bộ Ngoại giao (công văn số 1026/BNG-LS-m ngày 05 tháng 9 năm 2008 ) và Bộ Tư pháp (công văn số 3195/BTC-HCTP ngày 07 tháng 10 năm 2008 ) về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm có ý kiến như sau:

1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, tăng cường thực hiện quản lý nhà nước về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, tiếp tục thực hiện Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (Nghị định 68 ) và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68 (Nghị định 69).

2. Bộ Tư pháp:

a. Chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các cơ quan khác liên quan khẩn trương nghiên cứu, xây dựng: dự thảo văn bản về một số biện pháp tăng cường quản lý việc trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài, trình Thủ tướng Chính phủ chậm nhất trong quí I năm 2009; dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Nghị định 68 và Nghị định 69, trình Chính phủ chậm nhất trong quí II năm 2009;

Đọc tiếp

LUẬT HÔN NHÂN TRONG KINH QUR’AN (CORAN )

image HỒ ĐẮC DUY

Thiên kinh Qur’an – Những lời phán truyền của Thượng Đế Allah là toàn bộ nội dung giáo lý Islam. Qur’ran là kim chỉ nam đối với tín đồ Islam và là một trong những yếu tố tạo nên nề nếp sống của tín đồ Islam. Hiểu nội dung và ý nghĩa những Lời Dạy của Allah trong kinh Qur’an là điều tối cần thiết cho tín đồ Islam

Trong chương IV, phần IV, Đoạn I của kinh Qur’an nói về Đàn Bà ( AN – NISÂ’ ) câu 1 chép : Hỡi nhân loại ! Hãy sợ Rabb ( Allah ) của các người. Đấng đã tạo ra các người từ một Người duy nhất ( Adam ) và từ Người tạo ra người vợ ( Hawwâ’ ) của Người và từ hai người này, rải ra vô số đàn ông và đàn bà trên khắp mặt đất. Và hãy sợ Allah, Đấng mà các nguời đòi hỏi quyền hạn lẫn nhau và hãy kính trọng những dạ con mang nặng đẻ đau vì quả thật Allah Hằng Trông Coi các người

Câu 3 chép : Và nếu các nguời sợ không thể đối xữ công bằng với các con gái mồ côi, hãy cuới những ngừơi đàn bà mà các người vừa ý hoặc hai hoặc ba hoặc bốn. Nhưng nếu người sợ không thể ăn ở với họ thì hãy cưới một bà thôi hoặc ngừơi phụ nữ nào ở dưới tay của các người. Điều đó thích hợp cho các người hơn để may ra các người tránh được bất công

Câu 4 chép : Và hãy tặng cho vợ sắp cưới tiền cưới bắt buộc ( Mahr) của họ.Nhưng nếu họ vui lòng tặng lại một phần nào cho các người thì hãy hoan hỉ hưởng nó một các bổ ích

Quan niệm về vai trò người đàn ông trong gia đình đượcc xác định rất rõ ràng trong kinh Qur’an, điều này được ghi ở câu 34, đoạn 6 : Người đàn ông là trụ cột của gia đình trên đàn bà bởi vì Allah ban sức lực nguời này hơn người kia và bởi vì họ chỉ dùng tài sản của họ vào việc cấp dưỡng gia đình . Do đó, người đàn bà đức hạnh nên phục tùng chồng và trông coi nhà cửa trong lúc chồng vắng mặt với sự giúp đở và trông chừng của Allah ; và đối với các bà vợ mà các người sợ họ thất tiết và bướng bỉnh, trước hết hãy cảnh cáo họ, kế đó từ chối ăn nằm với họ và cuối cùng đánh họ nhẹ tay; bởi thế nếu họ chịu nghe theo các ngừoi thì chớ kiếm chuyện rầy rà với họ bởi vì Allah Rất Tối Cao, Rất Vĩ Đại

Đọc tiếp

KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: ẤN ĐỘ KHÔNG THỪA NHẬN CÁC HỢP ĐỒNG ĐẺ THUÊ

HỒNG CẨM (Theo Khaleej Times, Gulf Times, Times of India)

Theo luật Ấn Độ, người độc thân không được nhận con nuôi. Cuối tháng 7-2008, bé gái Manji Yamada chào đời trong một bệnh viện ở Ấn Độ. Tương lai của bé rồi sẽ không bình thường như bao trẻ khác bởi cha mẹ ruột của bé nhờ người mang thai thuê nhưng sau đó họ lại ly hôn nên có nguy cơ bé sẽ không có cha và mẹ.

Ly hôn phải mất con

Cha mẹ ruột của bé Manji Yamada là đôi vợ chồng người Nhật Ikufumi Yamada. Tháng 11-2007, họ đến Ấn Độ ký hợp đồng với một cô gái Ấn Độ nhờ cô này đẻ thuê.

Cô gái Ấn Độ mang thai từ trứng của một phụ nữ Ấn Độ khác kết hợp với tinh trùng của ông Ikufumi Yamada. Hai tuần trước khi bé Manji Yamada ra đời, hai vợ chồng người Nhật ly hôn.

Cô gái Ấn Độ sinh xong đã bỏ bé lại bệnh viện đi mất. Vợ cũ của ông Ikufumi Yamada tỏ thái độ không muốn nhận nuôi con. Ông Ikufumi Yamada dù rất muốn mang con về Nhật nuôi nhưng lại không thể vì chiếu theo luật Ấn Độ, người đàn ông đang trong tình trạng độc thân không được phép nhận con nuôi.

Đọc tiếp

MỘT SỐ TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC VỀ VẤN ĐỀ NUÔI CON NUÔI THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 68/2002/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 7 NĂM 2002 CỦA CHÍNH PHỦ

PHẠM VĂN CHUNG

Thực hiện các văn bản của Chính phủ và Bộ Tư pháp về vấn đề nuôi con nuôi. Trong những năm vừa qua các Sở Tư pháp đã tích cực tham mưu UBND các tỉnh, thành phố ban hành các văn bản về công tác nuôi con nuôi và quan tâm triển khai đưa công tác này vào thực tế cuộc sống. Do vậy việc quản lý và giải quyết vấn đề nuôi con nuôi trong nước, nuôi con nuôi quốc tế thời gian quan đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, đáp ứng tốt nhu cầu về nuôi con nuôi của người dân trên địa bàn cả nước.

Tuy nhiên, qua hơn 5 năm thực hiện các văn bản của Chính phủ về vấn đề nuôi con nuôi nói chung và nuôi quốc tế nói riêng. Đặc biệt là từ khi ban hành Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài (sau đây gọi tắt là NĐ 68), chúng tôi nhận thấy có một số khó khăn, vướng mắc sau đây:

Đọc tiếp

DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

TS. HOÀNG BÁ THỊNH – Bộ môn Xã hội học Giới và Gia đình – Trường Đại học KHXH và NV, ĐHQG Hà Nội.

1. Định nghĩa Hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

Trong điều 8 (Giải thích từ ngữ) của Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2000) có định nghĩa quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, như sau:

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: a) giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; b) giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; c) giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.

Trong bài viết này, chúng tôi xem vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở nghĩa thứ nhất của thuật ngữ này, đó là hôn nhân “giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài”, và cũng giới hạn ở phạm vi hẹp hơn nữa: phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài (chứ không xem xét khía cạnh nam giới Việt Nam lấy vợ nước ngoài).

2. Dư luận xã hội và cuộc sống

Thuật ngữ dư luận xã hội (DLXH, tiếng Anh: Public Opinion) là thuật ngữ được dùng nhiều trong đời sống xã hội và trong một số ngành khoa học như xã hội học, tâm lý học xã hội, báo chí v.v.. dư luận xã hội được coi là những trạng thái đặc trưng của ý thức xã hội, tâm trạng xã hội. Có thể hiểu rằng DLXH chính là một thành phần thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội và tính chất của nó bị quy định bởi tính chất các quan hệ kinh tế trong xã hội. Mặc dù vậy, với tư cách là một phần của thượng tầng kiến trúc, DLXH cũng có sự độc lập tương đối với hạ tầng cơ sở. Thí dụ, có những lúc DLXH lại tỏ ra bảo thủ hơn so với sự phát triển của các quan hệ kinh tế trong xã hội, cũng có những lúc nó lại “đi nhanh hơn” so với hạ tầng xã hội.

Đọc tiếp

THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI CƠ QUAN ĐẠI DIỆN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

1. Đăng ký việc kết hôn giữa hai công dân Việt Nam cùng tạm trú ở nước ngoài

Hai bên nam, nữ phải trực tiếp đến nộp hồ sơ tại Cơ quan đại diện. Trường hợp một trong hai bên không thể đến nộp hồ sơ mà có lý do chính đáng thì cần có đơn xin nộp hồ sơ vắng mặt, ghi rõ lý do.

Hồ sơ đăng ký kết hôn

của mỗi bên cần có các giấy tờ sau:

Tờ khai đăng ký kết hôn, trong đó khai đầy đủ các mục và có chữ ký của cả hai bên nam, nữ.

Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định (mẫu TP/HTNNg–2003– KH.1) có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc trước khi xuất cảnh ra nước ngoài đương sự là người chưa có vợ hoặc chồng. Nếu có Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do các cơ quan có thẩm quyền cấp thì không cần nộp Tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận này. Tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận hoặc Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nêu ở điểm này phải là bản chính (có dấu đỏ), không được là bản sao, kể cả bản sao có công chứng.

Đọc tiếp

%d bloggers like this: