NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

imageĐÌNH TUYÊN – VĂN PHÒNG TANNDTC

Ngày 24/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. Bộ luật dân sự là một trong những đạo luật quan trọng, là luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phục vụ hội nhập quốc tế, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.

Để tạo cơ chế pháp lý đầy đủ cho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, phát huy được vị trí, vai trò của Bộ luật dân sự, bảo đảm sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật dân sự, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và hội nhập quốc tế trên cơ sở kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành, Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định rất cụ thể về nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự từ Điều 4 đến Điều 6như sau:

a) Bộ luật dân sự là luật chung điều chỉnh tất cả các quan hệ dân sự, luật khác có liên quan đến điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự. Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng trái với quy định của Bộ luật dân sự thì phải áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự. Quy định như vậy là xuất phát từ các căn cứ sau đây:

Một là, quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực dân sự vốn rất đa dạng, phong phú với nhiều định dạng, biến thể khác nhau, được điều chỉnh không chỉ bởi Bộ luật dân sự mà còn bởi nhiều luật chuyên ngành khác. Vì vậy, để quyền dân sự của các chủ thể được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện thì đòi hỏi phải có sự đồng bộ, thống nhất của cả hệ thống pháp luật tư, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của Bộ luật dân sự. Bộ luật này không chỉ đóng vai trò là bộ luật nền, có tính định hướng cho việc hình thành và phát triển của toàn bộ hệ thống pháp luật tư mà còn là cơ sở pháp lý để giải quyết các quan hệ dân sự trong trường hợp không có quy định của luật chuyên ngành;

Đọc tiếp

PRAEDIALES SERVITUDES HAY LÀ QUYỀN HƯỞNG DỤNG ĐỐI VỚI BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ THEO PHÁP LUẬT LA MÃ

Lê Nguyễn Gia Thiện
Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM

Nguyễn Thị Thùy Linh
Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam

Pháp luật La Mã thượng tôn và bảo vệ tuyệt đối quyền của chủ sở hữu đối với tài sản của mình[1]. Theo đó, chủ sở hữu có quyền thực hiện tất cả các quyền đối với tài sản của mình từ chiếm hữu, mua bán, cầm cố, tặng cho, di chúc và thậm chí là từ bỏ tài sản. Các quyền này là tuyệt đối và pháp luật chỉ hạn chế chủ sở hữu thực hiện quyền của mình trong một số trường hợp rất hạn hữu. Tuy nhiên, bên cạnh chủ sỡ hữu, còn có một loại chủ thể khác dù không có tư cách chủ sỡ hữu nhưng vẫn có quyền sử dụng và hưởng các lợi ích[2] trên một tài sản nhất định. Pháp luật La Mã gọi những trường hợp này là servitudes, nghĩa là quyền hưởng dụng trên tài sản của người khác. Servitudes được phân thành hai loại là quyền hưởng dụng bất động sản của người khác (praediales servitudes) và quyền hưởng dụng tài sản không phải là bất động sản của người khác (personales servitudes)[3]. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về đặc điểm, phân loại, cũng như cách thức thiết lập, chấm dứt các praediales servitudes theo pháp luật La Mã.

1. Khái niệm, các nguyên tắc của praediales servitudes

1.1. Khái niệm

Praediales servitudes là quyền hưởng dụng của một người trên bất động sản của người khác nằm liền kề với bất động sản của mình[4]. Praediales servitudes là một loại tài sản, một quyền đối vật đặc biệt (jus in rem), vì thế nó đối kháng với tất cả các chủ thể khác. Quyền này thuộc về chủ của một bất động sản nhất định (bất động sản hưởng quyền – praedium dominans), tuy nhiên chủ bất động sản không thực hiện quyền này trên chính bất động sản của mình, mà lại thực hiện quyền trên bất động sản liền kề với nó (bất động sản chịu quyền – praedium serviens). Vì bản chất praediales servitudes gắn liền với các bất động sản liền kề, nên nếu một người sở hữu bất động sản nhưng không có bất động sản khác nằm liền kề, hay bản thân người đó không sở hữu bất động sản, thì đương nhiên người đó không có quyền này[5]. Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ là chủ sở hữu của một bất động sản liền kề với bất động sản thuộc các tổ chức tôn giáo (res sacrea hayres religiosae) cũng không thể thực hiện quyền dụng ích của mình[6].

Đọc tiếp

BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ THÔNG QUA CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN

PGS.TS. NGUYỄN QUỐC SỬU – Học viện Hành chính Quốc gia

 
BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
Điều 1. Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền

1. Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân.

Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài.

Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định. Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án.

2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng.

Điều 2. Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền

Khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền dân sự, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

Trường hợp quyết định cá biệt bị hủy thì quyền dân sự bị xâm phạm được khôi phục và có thể được bảo vệ bằng các phương thức quy định tại Điều 11 của Bộ luật này.

CIVILLAWINFOR – Cập nhật

Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong bảo vệ quyền dân sự là một trong mười vấn đề trọng tâm cần lấy ý kiến nhân dân theo Quyết định số 01/QĐ-TTg ngày 02-01-2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi).

Nội dung trên được quy định trong Dự thảo lần 4, tại “Điều 19. Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền”. Tiền đề của quy định này là Điều 9 trong Bộ luật Dân sự năm 2005; song quy định tại đó có tính nguyên tắc không đặt ra trách nhiệm cụ thể của cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp quyền dân sự của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm, bị tranh chấp.

Một yếu tố khác, Khoản 2 Điều 19 Dự thảo lần 4 quy định tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có luật quy định. Trong trường hợp này, tập quán, áp dụng tương tự pháp luật, án lệ và lẽ công bằng là các phương thức được dùng để giải quyết. Một quy định mới luôn kèm theo những phản hồi mới, từ đối tượng điều chỉnh lẫn những người thi hành pháp luật.

Đọc tiếp

LUẬN GIẢI VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

HUỲNH THẾ DU – giảng viên tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và hiện đang nghiên cứu sau tiến sỹ về chính sách công và phát triển đô thị tại Đại học Harvard

Bài này được viết khi tác giả đang nghiên cứu sau tiến sỹ về chính sách công và phát triển đô thị tại Đại học Harvard. Tuy nhiên, bài viết không thuộc bất kỳ dự án hay được tài trợ bởi tổ chức hay cá nhân nào (kể cả Đại học Harvard và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright nơi tác giả vẫn đang trong biên chế). Ý tưởng viết bài này được hình thành một cách tình cờ sau khi tác giả trao đổi với GS. Nguyễn Quang Thái về một số vấn đề liên quan. Bài viết hoàn toàn thể hiện quan điểm riêng của tác giả với mục tiêu duy nhất là đóng góp vào những thảo luận đến đường hướng phát triển cho Việt Nam hiện nay.

Để có thể hoàn thành bài viết, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người. Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn GS. Nguyễn Quang Thái với những trao đổi để tôi có thể hình thành bài viết cũng như việc cung cấp một số tài liệu và đọc các bản thảo với những nhận xét và góp ý vừa bao quát, vừa rất cụ thể. Tôi xin chân thành cảm ơn GS. Trần Hữu Dũng với những góp ý và bình luận hết sức thẳng thắn và xác đáng cho những nội dung cốt lõi của bài viết qua những bản thảo khác nhau. Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Trần Ngọc Anh, TS. Vũ Thành Tự Anh, bà Phạm Chi Lan, PGS. Phạm Duy Nghĩa, ông Trần Đức Nguyên, ông Nguyễn Vạn Phú, ông Nguyễn Xuân Thành, GS. Trần Văn Thọ và một số người khác đã đọc và có những nhận xét, bình luận và góp ý hết sức quý báu cho bài viết. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bà Phạm Chi Lan đã chuyển bản thảo đến một số người đọc và góp ý giúp tôi. Tôi xin cảm ơn ông Phạm Vũ Lửa Hạ đã giúp tôi tìm hiểu một số thuật ngữ liên quan.

Tất cả những người đã đọc các bản thảo và góp ý cho tôi đều là những chuyên gia hàng đầu trong những lĩnh vực liên quan đến các nội dung chính của bài viết. Do vậy, tôi đã có được những nhận xét, bình luận và góp ý hết sức sâu sắc từ bao quát đến cụ thể. Có những góp ý đơn giản chỉ là điều chỉnh hay thay đổi một vài câu chữ, nhưng đã làm cho các nội dung cốt lõi của bài viết nổi lên rõ ràng hơn rất nhiều. Điều này chỉ có thể đến từ những người thực sự am hiểu vấn đề. So với bản thảo đầu tiên, phiên bản này đã được bổ sung và phát triển thêm rất nhiều. Tuy nhiên, đây là một vấn lớn và liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng các nguồn lực  và khả năng của tác giả có hạn nên bài viết không thể phân tích hay lý giải tất cả các vấn đề được nêu ra một cách thấu đáo. Thêm vào đó, những điểm yếu, những sai sót là không thể tránh khỏi và lỗi này hoàn toàn thuộc về tác giả. Cuối cùng, bài viết chỉ là một phân tích, một tiếp cận của tác giả về một số khía cạnh trong chủ đề quan trọng này. Tác giả sẽ tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu thêm về những vấn đề liên quan trong khả năng và nguồn lực của mình. Với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình để cùng tất cả mọi người chung tay làm rõ con đường phát triển của Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, tác giả rất mong nhận được những góp ý, bình luận và trao đổi của những người quan tâm đến vấn đề này nói riêng, vì sự phát triển và thịnh vượng của Việt Nam nói chung.

Cambridge Tháng 11, 2013

Đọc tiếp

BÁO CÁO SỐ 151/BC-BTP NGÀY 15 THÁNG 7 NĂM 2013 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ BÁO CÁO TỔNG KẾT THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

BỘ TƯ PHÁP

Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây gọi là BLDS) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1 năm 2006) là văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn các quan hệ xã hội trong giao lưu dân sự. Bộ luật này cũng là nền tảng pháp lý cho hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là quan hệ dân sự).

Qua thực tiễn thi hành, BLDS đã phát huy vai trò to lớn trong việc quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự; góp phần đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Tuy nhiên trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, các quan hệ dân sự đã có những thay đổi đáng kể và nhanh chóng cần có sự điều chỉnh phù hợp của pháp luật. Trong bối cảnh như vậy, BLDS đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung.

Nắm bắt được thực trạng này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1322/QĐ-TTg ngày 18 tháng 9 năm 2012 về việc phê duyệt Kế hoạch tổng kết thi hành BLDS. Việc tổng kết này được coi là hoạt động quan trọng nhằm đánh giá tác động của BLDS tới sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; tác động của phát triển kinh tế – xã hội đến các quan hệ dân sự và quy định của BLDS; mối liên hệ giữa BLDS với các luật, pháp lệnh, điều ước quốc tế có liên quan; những thành công, cũng như những hạn chế trong quy định và tổ chức thực hiện Bộ luật; xác định những vấn đề phát sinh trong thực tiễn và đưa ra các đề xuất, giải pháp cụ thể để xử lý các vấn đề này một cách có hiệu quả.

Trên cơ sở tổng kết thi hành BLDS ở các Bộ, ngành, tổ chức ở Trung ương; 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ý kiến độc lập của các cơ quan, tổ chức có liên quan; các hoạt động hội thảo khoa học và các hoạt động khảo sát về đánh giá bất cập, hạn chế của BLDS, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng Báo cáo tổng kết thi hành BLDS.[1]

Phần thứ nhất

NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC QUA 07 NĂM THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ

A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ

I. Trong công tác xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật

Để bảo đảm BLDS đi vào thực tiễn, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2006 về việc thi hành BLDS; trong đó giao cho Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tự mình hoặc phối hợp với cơ quan hữu quan tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về dân sự hiện hành để hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới hoặc đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với quy định của BLDS, đảm bảo hiệu lực của BLDS từ ngày 01 tháng 1 năm 2006.

Đọc tiếp

TỔNG QUAN MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỊNH HƯỚNG TRONG PHẦN NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI) [1]

NGUYỄN HỒNG HẢI – Vụ pháp luật dân sự – kinh tế, Bộ Tư pháp

1. Định hướng chung

1.1. Mục tiêu

Có ba mục tiêu cơ bản trong kết cấu và xây dựng phần Những quy định chung của Bộ luật dân sự (sửa đổi):

(1) Nó là phần quy định những nguyên lý cơ bản nhất của hệ thống luật tư – luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được thiết lập trên nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể;

(2) Các quy định của Phần này là điều khoản chung về chủ thể, giao dịch, đối tượng, đại diện, thời hạn, thời hiệu cho các phần, chế định còn lại của Bộ luật dân sự và là điều khoản mang tính nguyên tắc cho các văn bản pháp luật thuộc hệ thống luật tư của Việt Nam. Trong trường hợp các văn bản luật tư không quy định hoặc quy định không cụ thể về giải quyết một quan hệ tư thì những quy định của phần Những quy định chung phải đảm bảo được vai trò là căn cứ để Tòa án công nhận và bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể;

(3) Đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn giao lưu dân sự và hoàn thiện hệ thống pháp luật tư.

1.2. Quan điểm

Để thực hiện mục tiêu trên, những quan điểm cơ bản sau đây cần được đặt ra:

Thứ nhất, đảm bảo Bộ luật dân sự là luật của quan hệ thị trường, ghi nhận một cách nhất quán, triệt để nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm của các chủ thể; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của bên yếu thế; hạn chế đến mức tối đa sự can thiệp của cơ quan công quyền vào việc xác lập các quan hệ dân sự;

Đọc tiếp

TRANH CHẤP DÂN SỰ, GIẢI QUYẾT THIẾU… DÂN SỰ

imageNGUYÊN TẤN

Trong thời buổi kinh tế sóng gió ba đào như hiện nay, hoạt động kinh doanh trên thương trường chắc chắn sẽ gặp nhiều rủi ro, bất trắc và do vậy rất dễ phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp.

Những vụ việc rộ lên gần đây như Bình An, An Khang… có thể nói là những ví dụ điển hình. Nông dân bán cá cho các công ty này, đến hạn, họ lại không được thanh toán theo đúng thỏa thuận. Đây là một loại tranh chấp dân sự liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa. Thế nhưng, lạ lùng thay cách thức giải quyết của các bên trong vụ việc tranh chấp lại dường như không… dân sự một chút nào.

Theo các nguồn tin, Công ty cổ phần Thủy sản Bình An nợ hàng trăm tỉ đồng tiền bán cá tra của hàng chục hộ nông dân tại các tỉnh khu vực ĐBSCL. Tuy nhiên, chỉ có ba hộ khởi kiện vụ án ra tòa để yêu cầu giải quyết, trong khi phần lớn những hộ còn lại thì đâm đơn “kêu cứu khẩn cấp đến lãnh đạo các cấp nhờ can thiệp” (Thanh Niên, 7-3-3012).

Tương tự, trước đó liên quan đến vụ Công ty TNHH An Khang ở Cần Thơ vỡ nợ, 23 hộ nông dân bán cá tra nguyên liệu cho công ty này cũng gửi đơn đến UBND thành phố Cần Thơ nhờ can thiệp (Tuổi Trẻ, 25-11-2011).

Ngay cả Công ty Bình An cũng chọn cách trông cậy vào sự can thiệp của chính quyền trước những tranh chấp đang bủa vây. Tại cuộc họp với đại diện UBND thành phố Cần Thơ vào ngày 10-3-2012, ông Trần Văn Trí, Tổng giám đốc Bình An, đã đề nghị chính quyền can thiệp để công ty và ông K. (một hộ bán cá tra) có cuộc gặp thương lượng nhằm trả chậm, tránh siết nợ, kiện tụng vì số tiền mà công ty nợ tiền bán cá của hộ này lên đến 40 tỉ đồng. Ông Trí cũng đề nghị chính quyền đứng ra làm cầu nối, chủ trì để công ty và nông dân gặp nhau cùng tháo gỡ các khoản nợ một cách hợp lý về thời gian (Tuổi Trẻ, 11-3-2012). Và đáp lại sự khẩn khoản của Công ty Bình An, UBND thành phố Cần Thơ cũng lập một đoàn công tác để nắm tình hình nợ nần và tham gia giải quyết cùng doanh nghiệp.

Đọc tiếp

TRIẾT LÝ PHÁP LÝ VÀ VIỆC SỬA ĐỔI CĂN BẢN BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Bộ Tư pháp đang thực hiện chương trình sửa đổi căn bản Bộ luật dân sự năm 2005 (Bộ LDS). Sửa đổi căn bản nghĩa là phải sửa đổi những nền tảng làm nên Bộ LDS. Muốn vậy, trước tiên phải nhận diện được những nền tảng đó là gì? Triết lý pháp lý không chỉ là nền tảng mà còn là linh hồn, là định hướng của một bộ luật. Tuy nhiên giống như trong nhiều bộ luật khác của ta, nó không được xác định rõ ràng và chú trọng đúng mức khi xây dựng Bộ LDS 2005.

I. Tầm quan trọng

I.1. Xác định mục đích, ý nghĩa của điều luật.

Một cách tổng quát, triết lý pháp lý (TLPL) có nhiệm vụ trả lời câu hỏi vì sao cần Luật pháp, tại sao một điều luật xác định phải có hiệu lực thi hành, làm thế nào để các điều luật có thể đảm bảo tốt nhất cuộc sống cùng tồn tại của con người, giải quyết hiệu quả nhất những xung đột không thể tránh khỏi trong cuộc sống đó.

Cụ thể hơn một chút, TLPL cần chỉ rõ pháp luật phải như thế nào để bảo vệ và bảo đảm được 02 giá trị căn bản nhất của mỗi cá nhân là Bình đẳng và Tự do trong những mối quan hệ phức tạp giữa họ với nhau, giữa họ với xã hội, với Nhà nước; phải làm sao để giải pháp giải quyết xung đột gần với Công lý nhất?

I.2. Định hướng xây dựng bộ luật.

Các bộ luật phải ổn định, có độ tin cậy cao, nhưng cũng phải thích ứng với những điều kiện luôn thay đổi của đời sống. Một hệ thống luật lệ giải quyết tốt các vấn đề hiện tại, vẫn cần nhiều thời gian cho những vấn đề mới. Đến lúc nó đưa ra được giải pháp tối ưu, thì nhiều khi các vấn đề này đã thành lạc hậu với những điều kiện đã thay đổi. Hệ thống pháp luật, vì vậy, luôn đứng trước một nhiệm vụ rất khó khăn: một mặt phải điều chỉnh những hành vi đã biết của cá nhân, sao cho ai cũng có thể chấp nhận và dự đoán được; mặt khác, không được điều chỉnh quá mức đến độ „đóng băng“ mọi hành vi trong thì hiện tại, ngăn chặn khả năng, cơ hội phát triển xã hội.

Làm thế nào để xây dựng được một bộ luật về cơ bản luôn đáp ứng được các điều kiện thay đổi không ngừng của thực tiễn? Cấu trúc bộ luật như một hệ thống mở cần được xây dựng theo nguyên tắc nào, cấu trúc điều luật sẽ ra sao? cũng là đối tượng của TLPL.

Đọc tiếp

SỨC SỐNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN SO SÁNH VỚI BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP, ĐỨC, HÀ LAN

BÙI THANH HẰNG & ĐỖ GIANG NAM – Bộ môn Luật dân sự, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Ở Việt Nam, tính từ năm 1995 đến nay đã có hai Bộ luật Dân sự – BLDS (BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005) và hiện chúng ta cũng có kế hoạch xem xét xây dựng BLDS thứ ba trong vài năm tới. Như vậy, tuổi thọ trung bình của BLDS nước ta là 10 năm. Một trong những lý do khách quan dẫn đến tuổi thọ khiêm tốn của BLDS Việt Nam là sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế cũng như quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng. Bên cạnh đó, một lý do khiến BLDS Việt Nam chưa có sức sống cao và phải liên tục sửa đổi là nó chưa đạt được chuẩn mực cần có. Nghĩa là BLDS chưa có một cấu trúc hợp lý, logic cho hệ thống quy phạm dân sự; còn lúng túng trong việc lựa chọn ngôn từ diễn đạt và chưa nhìn nhận đúng vai trò của Tòa án trong việc giải thích pháp luật. Bài viết đề cập dưới góc nhìn so sánh với BLDS Pháp, Đức, Hà Lan nhằm góp phần hoàn thiện BLDS với tính cách là một văn bản thống nhất, làm nền tảng cho cả hệ thống luật tư.

1. Cấu trúc cần có của Bộ luật Dân sự Việt Nam

Bàn về BLDS Pháp, nhiều học giả coi đó là “bản Hiến pháp” của dân luật hay ví nó như một đài kỷ niệm1. Sự so sánh này một mặt cho thấy vị trí vô cùng quan trọng nhưng rất gần gũi, quen thuộc của BLDS Pháp đối với mỗi người dân trong cuộc sống hàng ngày. Mặt khác, nó cũng khẳng định tính ổn định, khả năng vượt thời gian của BLDS Pháp2 và tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn của BLDS Pháp đối với pháp luật dân sự thế giới3.

Việc ví von BLDS như một đài kỷ niệm làm chúng ta không khỏi liên tưởng đến mối liên hệ giữa BLDS với quy phạm tạo nên nó như là mối liên hệ giữa một công trình kiến trúc kỳ vĩ được tạo nên bởi những viên gạch bình dị nhờ sức sáng tạo của những kiến trúc sư tài ba được thể hiện thông qua việc xây dựng kết cấu, sự sắp đặt tinh tế, khéo léo và sự lựa chọn những viên gạch cho công trình đó. Nói cách khác, điều trước hết cần phải làm khi xây dựng một văn bản pháp luật – trong đó có BLDS – là phải lựa chọn được cấu trúc thích hợp, đảm bảo an toàn về mặt pháp lý. Với tầm quan trọng như thế, cấu trúc của một bộ luật nhất thiết phải được xây dựng đầu tiên để giới hạn phạm vi những vấn đề được đưa vào BLDS và những vấn đề được đặt trong những đạo luật riêng (luật chuyên ngành), đồng thời xác định tương quan giữa BLDS và các luật chuyên ngành, tránh việc đưa vào Bộ luật những nội dung pháp lý không thuộc bản chất của dân sự4.

Là một văn bản nền tảng cho cả hệ thống luật tư, việc xây dựng BLDS phải đảm bảo thống nhất về tính rõ ràng, tính xác định và tính có thể dự báo trước được5. Tuy nhiên, BLDS cũng phải hàm chứa trong nó sự mềm dẻo, linh hoạt, đáp ứng nhu cầu giải quyết các tình huống phát sinh trong đời sống xã hội do đặc tính quan hệ dân sự – là những quan hệ luôn biến động cùng sự vận hành, phát triển của xã hội dân sự và nền kinh tế thị trường.

Đọc tiếp

MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT CỦA CỘNG HÒA PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN CẤU TRÚC BỘ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ SỞ HỮU

NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP

Nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005, ngày 12 và 13 tháng 5 năm 2011, Nhà Pháp luật Việt – Pháp đã phối hợp với Vụ Pháp luật Dân sự – Kinh tế tổ chức tọa đàm về cấu trúc Bộ luật Dân sự, tài sản và sở hữu trong BLDS với sự tham gia của các chuyên gia Cộng hòa Pháp. Dưới đây là tổng hợp một số nội dung trao đổi tại tọa đàm trên cơ sở kinh nghiệm của Bộ luật Dân sự Pháp.

Về dự kiến cấu trúc BLDS Việt Nam sửa đổi, về cơ bản, các chuyên gia Pháp cho rằng cấu trúc này là hợp lý, rõ ràng và tiến bộ. Tuy nhiên, có một số điểm cần tiếp tục nghiên cứu, cân nhắc. BLDS Pháp được cơ cấu thành các phần là người, tài sản, các phương thức xác lập quyền sở hữu và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Cấu trúc này bền vững với thời gian và cho phép tiếp nhận mọi sự thay đổi về nội dung của các phần. Theo quan điểm của Pháp, chế định hôn nhân và gia đình cần phải được quy định trong BLDS vì đây là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của người dân. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng đó là sự lựa chọn riêng của mỗi quốc gia phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mình. Ngoài ra, BLDS Pháp có một phần riêng về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, cả các biện pháp bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật, điều này rất thuận tiện cho việc tra cứu. Trong khi đó, trong BLDS của Đức, vấn đề này được quy định ở cả hai phần vật quyền và trái quyền – dự kiến cấu trúc BLDS VN sửa đổi cũng đi theo hướng này.   

Về phần quy định chung, liên quan đến pháp nhân, chuyên gia cho rằng nên có sự phân biệt giữa pháp nhân là một tập hợp người và pháp nhân là tập hợp tài sản (ví dụ các quỹ). Về vấn đề đại diện, trong phần quy định chung, đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền được quy định với tư cách chủ thể còn căn cứ đại diện thì được quy định trong phần trái vụ. Các chuyên gia lưu ý việc tách biệt này có thể làm nảy sinh khó khăn vì trong một số hệ thống pháp luật, có trường hợp một người không có năng lực hành vi có thể ký thỏa thuận để tổ chức thực hiện việc bảo hộ đối với mình.  

Về vấn đề tài sản, BLDS Pháp hiện không có định nghĩa về tài sản nhưng dự án cải cách hiện nay đề xuất đưa ra định nghĩa về tài sản như sau : «Tài sản là vật hữu hình hoặc vô hình được sở hữu hoặc là quyền đối vật hoặc quyền đối nhân». Pháp luật Pháp không có khái niệm «tài sản ảo» mà chỉ có các khái niệm như «tài sản hình thành trong tương lai», «tài sản vô hình». Theo các chuyên gia, cần phải làm rõ hơn nữa nội dung của khái niệm này và cân nhắc có thực sự cần thiết đưa khái niệm này vào BLDS không.

Đọc tiếp

%d bloggers like this: