CHẾ TÀI DÂN SỰ ÁP DỤNG CHO HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

Kết quả hình ảnh cho UNFAIR COMPETITIONNGUYỄN LAN ANH – Khoa Luật, Đại học Ngoại thương Hà Nội

Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng cần được coi là hành vi xâm phạm cả lợi ích tư và lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng vừa phải chịu các chế tài hành chính hoặc hình sự và chế tài dân sự. Chế tài dân sự bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại và các biện pháp chế tài phi vật chất. Pháp luật hiện hành của Việt Nam đã quy định tương đối đầy đủ các biện pháp chế tài dân sự. Tuy nhiên, có một số quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại chưa thực sự phù hợp với thực tế để áp dụng đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng. Vì vậy, những quy định này cần được tiếp tục hoàn thiện để có thể sử dụng hiệu quả trong xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng.

1. Bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng

Điều 3, khoản 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.” Như vậy, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những đặc điểm sau: (1) là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh; (2) là hành vi cạnh tranh trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh; và (3) hành vi gây thiệt hại, có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp khác và người tiêu dùng.1 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng đã được quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.2 Điều 9, khoản 3 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 giao cho “Chính phủ quy định cụ thể các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và hình thức xử lý các hành vi này.” Trong dự thảo Nghị định quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và hình thức xử lý các hành vi này được công bố vào tháng 6/2010 có định nghĩa về “hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng” như sau:

“Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng là hành vi cạnh tranh của tổ chức và cá nhân có liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng vì quá chạy theo mục tiêu lợi nhuận mà trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, có nguy cơ gây tổn hại hoặc gây tổn hại đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân khác.”

Đọc tiếp

MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI

Kết quả hình ảnh cho future contractsTỔNG HỢP TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC (Civillawinfor St.)

  I. Khái niệm, đặc điểm, ưu và nhược điểm của Hợp đồng tương lai

  1. Khái niệm

Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận giữa hai bên tham gia về việc mua và bán một tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với giá được xác định trước.

Như vậy, khi tham gia vào hợp đồng tương lai, bên mua và bên bán đều được biết trước về:

+ Loại hàng hóa (tài sản) sẽ mua – bán là gì;

+ Khối lượng hàng hóa (tài sản) sẽ mua – bán là bao nhiêu;

+ Thời điểm diễn ra giao dịch đó;

+ Giá giao dịch.

2. Đặc điểm của hợp đồng tương lai

a) Tính chuẩn hóa

Hợp đồng tương lai là một công cụ được niêm yết và giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán phái sinh. Vì vậy, các điều khoản của hợp đồng đều được chuẩn hóa. Cụ thể, sở giao dịch nơi niêm yết hợp đồng tương lai sẽ quy định cụ thể các nội dung chi tiết của một hợp đồng, như: loại và chất lượng tài sản cơ sở, quy mô của hợp đồng (số lượng tài sản cơ sở giao dịch tương ứng với một hợp đồng), cách thức giao – nhận cũng như thanh toán giữa hai bên khi hợp đồng đáo hạn…

b) Tính chất cam kết về việc thực hiện nghĩa vụ trong tương lai

Đọc tiếp

CHỨNG KHOÁN HÓA KHOẢN VAY CÓ THẾ CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN: NHÌN NHẬN LỢI ÍCH VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

TS. ĐẶNG VĂN DÂN – Đại học Ngân hàng TP.HCM

Giới thiệu

Việc xây dựng và phát triển thị trường tài chính (TTTC) hiện đại luôn được xem là một nhân tố quan trọng và không thể thiếu trong tiến trình xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước. Trong phát triển TTTC thì việc tạo lập và đa dạng hóa các công cụ trên thị trường cũng là một yêu cầu hết sức cần thiết. Các công cụ tài chính thường đa dạng từ cách thức thực hiện, đến chức năng và cả mức độ tác động đến sự phát triển TTTC và các thị trường có liên quan. Trên thế giới, có một công cụ có khả năng liên kết các thị trường với nhau, cụ thể là là thị trường bất động sản (BĐS), thị trường tín dụng và thị trường chứng khoán (TTCK) – công cụ chứng khoán hoá (CKH) cho vay thế chấp BĐS. Có thể nói tính toàn diện mà công cụ này mang lại thì khó có loại sản phẩm tài chính nào sánh kịp, nó tạo ra cơ chế tuần hoàn và chu chuyển vốn năng động, linh hoạt hơn rất nhiều cho TTTC, cũng như kết nối hiệu quả giữa các bộ phận thị trường có vị thế đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế như vừa nêu. Bài viết sẽ tiếp cận công cụ CKH khoản vay có thế chấp BĐS dựa trên những lợi ích mà nó mang lại cho Việt Nam trên các mặt kinh tế – xã hội, qua đó đưa ra nhận định về tính cần thiết để đưa vào vận hành trên thị trường loại công cụ đặc biệt này. Sau đó, để đánh giá về khả năng hình thành và áp dụng thành công công cụ CKH khoản vay có thế chấp BĐS ở Việt Nam, bài viết cũng xin nêu ra các điều kiện hiện tại, cả thuận lợi và khó khăn nhằm tạo cơ sở vững chắc hơn cho nhận định của tác giả.

Cơ sở lý luận

Nhìn chung, CKH có thể hiểu là một quá trình cơ cấu lại các tài sản tài chính mà theo đó, các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói bởi một tổ chức chuyên trách(SPV – Special Purpose Vehicle), sau đó, thông qua công tác định giá rủi ro của các tổ chức định mức tín nhiệm, những tài sản đó được làm đảm bảo để phát hành các trái phiếu qua kênh của tổ chức bảo lãnh phát hành với mức giá và lãi suất hợp lý. Tương ứng tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến những trung gian tài chính (thường là các ngân hàng thương mại (NHTM), công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính…) để những trung gian này lắp vào các khoản cho vay thế chấp trước đó. Các loại tài sản có thể đem CKH chủ yếu như các khoản cho vay thế chấp BĐS, các khoản phải thu trong hợp đồng kinh tế, hay các hợp đồng thuê mua một số tài sản thực khác,… đều phải đáp ứng được những tiêu chuẩn kỹ thuật và phải đạt được mức độ tương đồng nhất định trong cùng một nhóm tài sản mang đi đóng gói.

Đọc tiếp

BÌNH LUẬN HƯƠNG ƯỚC THEO GIÁC ĐỘ LUẬT HỢP ĐỒNG

LS.THS. PHẠM QUANG HUY – Văn phòng Luật sư Hàn Sỹ Huy

1. Hương ước làng Việt

Làng là nơi dân cư ẩn mình đằng sau những lũy tre và truyền thống được lưu giữ từ đời này qua đời khác. Thêm vào đó, làng ở miền Bắc Việt Nam thuộc về khu vực lãnh thổ đã bị quân xâm lược phong kiến phương Bắc đô hộ suốt hơn một ngàn năm trước đây.([1]) Trong kết cấu xã hội Việt Nam, làng đóng vai trò to lớn, đặc biệt trong quá trình hình thành nhận thức của mỗi người dân. Làng không chỉ đơn thuần là một đơn vị hành chính mà còn là sự cố kết cộng đồng đậm đặc của người Việt. Làng Việt cổ truyền “trong chừng mực là tế bào của xã hội”.([2]) Trước đây, một thời làng, xã, thôn Việt Nam “sau khi được triều đình công nhận, mỗi xã thôn đều có tư cách pháp nhân và được coi như một tổ chức tự trị. Bởi vậy mỗi làng đều có một tên riêng, có công điền, công thổ và một cơ quan quản trị do người làng tự cắt đặt ra”.([3]) Vì lẽ là một tổ chức tự trị như vậy nên làng phải “đặt ra các khoán lệ để trừng phạt những người phạm đến quyền lợi chung của làng hoặc của cá nhân, lập ra hương ước để quy định hết thẩy tục lệ của làng cho mọi người biết mà tuân theo”.([4])

Nhà bác học Lê Quý Đôn, dẫn theo sách “Phù ông tạp kí” cho rằng âm tự “khoán ước” có từ thời Hán đến thời nhà Tống nhưng chỉ được coi là khế ước trong buôn bán.([5]) Học giả Đào Duy Anh định nghĩa “hương ước là quy luật trong làng”.([6]) Theo Lệnh ban bố của vua Lê Thánh Tông ngày 20 tháng Tư năm Hồng Đức thứ 7, Điều 6 quy định: “Nhất cấm dân tục thiết lập tư ước”.([7]) Như vậy có thể thấy rằng, vào thời điểm trước năm 1471, tại cộng đồng làng xã Việt Nam đã tồn tại nhiều hình thức khác nhau của hương ước. Cũng trong Lệnh này, Vua Lê Thánh Tông viết: “Nếu làng xã nào có những tục khác lạ lập ra khoán ước và cấm lệ, ắt phải nhờ viên chức nho giả, người nào đứng tuổi, có đức hạnh ngay thẳng, mới có thể tuân hành. Khi đã lập ra khoán lệ rồi, phải trình lên quan chức, các nha môn xem xét rõ các điều lệ nên theo, sẽ phê chuẩn thừa hành. Nếu thấy trong khoán ước có điều thiên tư gian tà thì phê chữ “bác”, để cho khỏi sinh những gian mưu. Nếu người nào không dự vào việc lập ước ấy mà tụ họp riêng thì cho phép xã quan tố cáo lên nha môn để trị tội, để bỏ tệ tục, lấp hẳn sự cường hào tiếm đoạt. Các nhà chức trách không thể dung thứ”.([8])

Đọc tiếp

MỘT SỐ RỦI RO PHÁP LÝ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG KHI PHÁT HÀNH BẢO LÃNH

TS. BÙI ĐỨC GIANG Công ty Luật Audier and Partners vietnam LLC

Phát hành bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ cấp tín dụng chứa đựng rủi ro, đặc biệt là trong trường hợp ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Ngoài các rủi ro gắn với việc truy đòi số tiền đã trả thay cho bên được bảo lãnh như trong trường hợp thu hồi khoản vay thông thường, ngân hàng phát hành bảo lãnh còn phải đối mặt với những rủi ro pháp lý khác gắn liền với cam kết bảo lãnh của mình.

1. Thanh toán số tiền bảo lãnh khi không có vi phạm

Theo khoản 18, Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/ QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 và khoản 1, Điều 3, Thông tư số 07/2015/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 25 tháng 6 năm 2015 về bảo lãnh ngân hàng (Thông tư 07), ngân hàng phát hành bảo lãnh sẽ phải thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên này không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết.

Như vậy, pháp luật ngân hàng đã loại trừ khả năng các bên có thể thỏa thuận về việc ngân hàng phát hành bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không có khả năng (tài chính) thực hiện nghĩa vụ của mình vốn được quy định tại Điều 361, Bộ luật Dân sự, áp dụng đối với bảo lãnh thông thường. Đây là một nét khác biệt giữa bảo lãnh ngân hàng và bảo lãnh thông thường theo quy định chung về giao dịch bảo đảm.

Tuy vậy, bảo lãnh ngân hàng không phải là một loại cam kết độc lập, tách bạch hoàn toàn với nghĩa vụ được bảo lãnh, bởi vì:

– Định nghĩa về bảo lãnh ngân hàng nêu trên cho thấy ngân hàng phát hành bảo lãnh chỉ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnhkhi bên này vi phạm (không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ) nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh. Nói cách khác, nếu không có vi phạm từ phía bên được bảo lãnh thì ngân hàng không phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền bảo lãnh. Thông thường, trong cam kết bảo lãnh, thường đặt ra yêu cầu bên nhận bảo lãnh cung cấp bằng chứng về việc bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ khi bên nhận bảo lãnh yêu cầu ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Chẳng hạn trong trường hợp bảo lãnh thanh toán, bên nhận bảo lãnh phải cung cấp cho ngân hàng hóa đơn bán hàng chưa được thanh toán, biên bản xác nhận công nợ được ký bởi bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh hay biên bản nghiệm thu, hoặc thanh lý hợp đồng có chữ ký của hai bên này.

Đọc tiếp

GIAO DỊCH BẢO ĐẢM DƯỚI KHÍA CẠNH SO SÁNH LUẬT HỌC

PGS.TS. LÊ THỊ THU THỦY Đại học Quốc gia Hà Nội;

ĐỖ MINH TUẤN -  NCS. Đại học Luật Hà Nội.

Chế định các biện pháp bảo đảm (BPBĐ) trong pháp luật Việt Nam kế thừa những giá trị của pháp luật thời kỳ phong kiến và pháp luật của Pháp. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của các giao dịch thương mại quốc tế, chế định về các BPBĐ đã được quốc tế hóa và chịu ảnh hưởng không ít bởi những tư tưởng của pháp luật Anh – Mỹ. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi cung cấp một bức tranh khái quát về pháp luật các nước Anh – Mỹ và thông lệ quốc tế về giao dịch bảo đảm (GDBĐ) dưới góc độ so sánh với pháp luật Việt Nam. Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa pháp luật về các BPBĐ của Việt Nam, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế.

1. Khái niệm về giao dịch bảo đảm

BPBĐ là công cụ hữu hiệu nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm của bên có nghĩa vụ, vừa bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền. Trong giao lưu dân sự, đặc biệt là trong quan hệ kinh doanh – thương mại, BPBĐ có vai trò rất quan trọng.

“BPBĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự là biện pháp trong đó một bên sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình hoặc sử dụng uy tín của mình (gọi là bên bảo đảm) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình hoặc của chủ thể khác (gọi là bên được bảo đảm)”[1]. Các BPBĐ theo pháp luật Việt Nam chủ yếu có tính chất tài sản, trừ biện pháp tín chấp. Nhìn chung, pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước khá tương đồng về khái niệm BPBĐ tuy có sự khác nhau trong việc sử dụng thuật ngữ. Theo hướng dẫn của UNCITRAL thì “GDBĐ là giao dịch xác lập lợi ích bảo đảm. Mặc dù việc chuyển nhượng tuyệt đối khoản phải thu không bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, nhưng để thuận tiện cho việc dẫn chiếu, GDBĐ bao gồm cả việc chuyển nhượng khoản phải thu”[2], trong đó lợi ích bảo đảm là một lợi ích tài sản gắn với một tài sản nhất định nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ nhất định. Theo pháp luật của Mỹ thì GDBĐ cũng là giao dịch xác lập lợi ích bảo đảm[3]. Có thể thấy, “lợi ích bảo đảm” khá tương đồng với “BPBĐ”.

Pháp luật Việt Nam và pháp luật của các nước đều thừa nhận bên bảo đảm có quyền sử dụng tài sản bao gồm vật, giấy tờ có giá, quyền tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của mình.

Đọc tiếp

ĐẢM BẢO BÍ MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LÝ

NGUYỄN THỊ KIM THOA – Giảng viên Khoa Luật kinh tế, Đại học Ngân hàng TPHCM

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015:

“Điều 38. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

“Điều 387. Thông tin trong giao kết hợp đồng

1. Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.

2. Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.

3. Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

“Điều 517. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ

5. Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

6. Bồi thường thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ, nếu làm mất, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin”.

“Điều 565. Nghĩa vụ của bên được ủy quyền

4. Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc uỷ quyền”

CIVILLAWINFOR (Cập nhật, không có mục đích phản biện tác giả)

Đặt vấn đề

Xã hội ngày càng phát triển, các yêu cầu được đảm bảo bí mật thông tin của con người ngày càng được coi trọng, đặc biệt trong các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng. Theo số liệu thống kê về vấn đề bảo mật thông tin của Tổ chức chứng nhận TÜVRheinland Việt Nam (trong đó, có những số liệu liên quan đến vấn đề bảo mật thông tin của các tổ chức hoạt động ngân hàng) cho biết, mỗi năm có trên 30.000 mật khẩu của các tài khoản internet bị công bố trên mạng và 30.0000 số tài khoản tín dụng cá nhân bị trộm, một số bị công bố trên Web…1, bảo mật thông tin của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng càng trở nên cấp thiết. Điều này đòi hỏi các quy định pháp luật về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức hoạt động ngân hàng cần cụ thể, phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn. Để có thể hình dung về nghĩa vụ đảm bảo bí mật thông tin khách hàng của các tổ chức hoạt động ngân hàng, bài viết sẽ tập trung làm rõ khía cạnh pháp lý của các quy định về nghĩa vụ đảm bảo bí mật thông tin của khách hàng trong hoạt động ngân hàng; đồng thời, sẽ phân tích một số hạn chế của pháp luật về nghĩa vụ đảm bảo bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam và có một số đề xuất liên quan đến việc hoàn thiện các quy định pháp luật về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức hoạt động ngân hàng.

1. Khái quát về thông tin trong hoạt động ngân hàng liên quan đến khách hàng

Theo Từ điển Tiếng Việt, thông tin là điều hoặc tin được truyền đi cho biết sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó2.

Đọc tiếp

MỘT SỐ GIẢI PHÁP XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY HIỆN NAY

TS. NGUYỄN TIẾN ĐÔNG – Vụ trưởng Vụ Tín dụng CNKT, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Có thể khẳng định tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay sẽ còn tiếp tục là một kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế. Đối với hoạt động tín dụng, tài sản bảo đảm (TSBĐ) được xem như “phao cứu sinh” nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, đảm bảo ngân hàng có thể thu hồi một phần hoặc toàn bộ gốc và lãi khi khách hàng không trả được nợ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, công tác xử lý TSBĐ tại các tổ chức tín dụng (TCTD) còn tồn tại nhiều bất cập. Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật liên quan đến TSBĐ và xử lý TSBĐ đang ở trong tình trạng vừa chồng chéo vừa thiếu hụt. Đây đang là vấn đề nổi cộm trong hoạt động của các TCTD, cần phải có những giải pháp mang tính toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả xử lý TSBĐ, thu hồi nợ xấu.

Phạm vi bài viết sẽ nêu ra một số khó khăn, vướng mắc chủ yếu, phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp trong xử lý TSBĐ trong hoạt động tín dụng của các TCTD hiện nay.

1. Những vướng mắc trong hoạt động xử lý TSBĐ nói chung tại các TCTD

Khó khăn trong định giá TSBĐ khi tiến hành xử lý

Hiện nay, việc định giá tài sản khi thực hiện xử lý TSBĐ được các TCTD thực hiện như một khâu độc lập với quá trình định giá khi ký kết hợp đồng bảo đảm hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo đảm.

Khi phải tiến hành xử lý TSBĐ, một số TCTD đã tự xác định giá trị tài sản hoặc căn cứ giá trị định giá ban đầu để xử lý nhằm thu hồi khoản nợ một cách nhanh chóng. Việc không thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được với bên bảo đảm hoặc thuê một tổ chức có chức năng định giá chuyên nghiệp và độc lập để định giá TSBĐ cần xử lý có thể làm phát sinh tranh chấp giữa ngân hàng và bên bảo đảm khi pháp luật chưa có quy định cụ thể về việc chủ thể nào có quyền lựa chọn cơ quan thẩm định giá. Vướng mắc này phần nào đã được tháo gỡ khi Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN giữa Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về hướng dẫn một số vấn đề xử lý TSBĐ được ban hành, hiệu lực từ 22/7/2014. Theo đó, nếu bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm không thỏa thuận được giá bán TSBĐ thì ngay cả trong trường hợp bên bảo đảm bất hợp tác, phía TCTD cũng có thể chỉ định tổ chức thẩm định giá để xác định giá bán tài sản (Điều 10 của Thông tư này).

Đọc tiếp

CẦM GIỮ TÀI SẢN CÓ PHẢI LÀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ?

TS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC

Cầm giữ tài sản là một chế định pháp lý vẫn còn nằm tách bạch so với các quy định về giao dịch bảo đảm của Bộ luật Dân sự (BLDS). Dự thảo BLDS trình Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 23/9/2014 (Dự thảo) đã đưa cầm giữ tài sản vào danh sách các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận (điểm c, khoản 1 Điều 294). Bài viết phân tích các hạn chế của quy định hiện hành, bình luận cách tiếp cận của Dự thảo thông qua việc so sánh với quy định pháp luật của Anh và Pháp.

1. Khái niệm quyền cầm giữ tài sản

Quan hệ hợp đồng song vụ – Theo quy định tại khoản 1 Điều 416 BLDS, quyền cầm giữ tài sản chỉ phát sinh trong quan hệ hợp đồng, cụ thể là hợp đồng song vụ. Điều 324 của Dự thảo cũng vẫn giữ cách tiếp cận này. Bên cầm giữ có thể cầm giữ một phần hay toàn bộ tài sản (điểm a khoản 2 Điều 416 BLDS).

Pháp luật của một số nước công nhận cả các tình huống không mang tính chất song vụ. Chẳng hạn theo Điều 2277 của BLDS Pháp, người đang chiếm giữ một tài sản bị đánh cắp hay bị mất nếu đã mua tài sản này tại một hội chợ, chợ, một buổi bán đấu giá hay từ một người bán hàng bán các tài sản tương tự chỉ phải hoàn trả tài sản này cho người chủ ban đầu khi người chủ này hoàn trả cho anh ta số tiền anh ta đã phải trả khi mua tài sản, tức là, nếu không được hoàn trả số tiền bằng giá mua thì người đang chiếm giữ được tiếp tục cầm giữ tài sản. Ở đây không có quan hệ hợp đồng trực tiếp giữa người đang chiếm giữ tài sản và chủ sở hữu tài sản. Một ví dụ khác liên quan đến hợp đồng thuê nhà ở, nếu trong hợp đồng thuê có quy định quyền của bên cho thuê được bán căn nhà cho thuê và yêu cầu bên thuê ra khỏi địa điểm thuê trong thời hạn của hợp đồng thuê thì bên thuê chỉ phải rời địa điểm thuê khi được bên cho thuê hay bên mua nhà thanh toán các khoản bồi thường thiệt hại được quy định trong hợp đồng hay theo quy định của pháp luật[1].

Đọc tiếp

HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.

1. Dẫn nhập

Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ được xây dựng trong luật Việt Nam hiện hành trong khuôn khổ chế độ pháp lý về nghĩa vụ và hợp đồng. Trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS), các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được đưa vào một mục trong Chương “Những quy định chung” của Phần “Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự”. Về mặt cấu trúc pháp lý, quan hệ bảo đảm nghĩa vụ được ghi nhận có ba yếu tố: bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm và nội dung bảo đảm (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh…). Có thể ghi nhận ở đó những nét đặc trưng của quan hệ trái quyền theo quan niệm của luật phương Tây. Điều này dễ hiểu, bởi được xây dựng như là một phần của lý thuyết chung về nghĩa vụ, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ tất nhiên phải tạo ra các quyền đối nhân – quyền được một người thực hiện chống lại một người khác, chứ không phải quyền đối vật – quyền thực hiện trực tiếp trên vật mà không cần sự hợp tác của bất kỳ người nào[1].

Cũng như trong luật các nước, chế định bảo đảm nghĩa vụ nói chung trong luật thực định Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tư tưởng chủ đạo, theo đó, chủ nợ có bảo đảm, trong trường hợp cần thiết, có thể thu hồi nợ mà không cần sự hợp tác của người mắc nợ. Trong những trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm bằng các biện pháp cầm cố, thế chấp tài sản, chủ nợ có bảo đảm cần hai điều cụ thể: thứ nhất, tài sản bảo đảm luôn hiện hữu về phương diện vật chất cũng như trong phạm vi kiểm soát pháp lý của mình; thứ hai, chủ nợ có thể “lấy” tài sản để xử lý khi cần thiết mà không gặp phải sự cản trở, chống đối của bất kỳ ai.

Không áp dụng lý thuyết vật quyền, nhà làm luật Việt Nam không có đủ công cụ để giải quyết các vấn đề cần thiết nhằm cụ thể hoá tư tưởng này. Nhà làm luật đã tự mày mò, sáng tạo và rốt cuộc đã đi đến những giải pháp khác so với các nước.

Đọc tiếp

%d bloggers like this: