CÁC QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG CÁC VỤ KIẾN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

LS.THS. PHẠM VÂN THÀNH

Lời dẫn

Trong các Hiệp định WTO không có định nghĩa hay quy định nào về nền kinh tế phi thị trường. Tuy nhiên, Hoa Kỳ, EU và một số nước thành viên khác có quy định riêng trong quá trình xây dựng nội luật của mình liên quan đến vấn đề này. Khi đàm phán gia nhập WTO, theo yêu cầu của một số thành viên, đặc biệt là Hoa Kỳ, Việt Nam chấp nhận cam kết là nước có nền kinh tế phi thị trường cho đến năm 2018, nhưng điều này không có nghĩa mặc nhiên sau năm 2018 Việt Nam sẽ được coi là nước có nền kinh tế thị trường. Vấn đề kinh tế phi thị trường có ảnh hưởng lớn tới quá trình tính toán biên độ phá giá trong vụ việc điều tra. Khi một quốc gia bị coi là có nền kinh tế phi thị trường, cơ quan điều tra sẽ sử dụng giá trị của một nước thứ ba (surrogate country) để tính toán giá trị thông thường (normal value) cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Điều này làm cho biên độ phá giá không được chính xác và dẫn đến thuế chống bán phá giá áp dụng đối với hàng xuất khẩu thuộc diện bị điều tra áp thuế chống bán phá giá của Việt Nam tăng cao, không công bằng và không đúng với thực chất vốn có của các giao dịch thương mại. Trong bối cảnh các vụ điều tra chống bán phá giá ngày càng gia tăng và có xu hướng phức tạp, các doanh nghiệp Việt Nam phải chịu những mức thuế chống bán phá giá cao do Việt Nam bị đối xử là nền kinh tế phi thị trường, bài viết này đề cập đến các vấn đề sau: khái quát chung về  vấn đề kinh tế phi thị trường; các quy định đối với nền kinh tế thị trường của các nước; tác động của việc bị đối xử là nước có nền kinh tế phi thị trường đến các doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ việc chống bán phá giá; và một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ điều tra chống bán phá giá của nước ngoài.

I. Khái quát chung về vấn đề kinh tế phi thị trường

Nền kinh tế phi thị trường (non-market economy – “NME”)  là tên gọi được sử dụng cho các nền kinh tế của các nước thuộc Trung và Đông Âu, Liên Xô (trước đây), Trung Quốc, Việt Nam và một số nước vào những năm cuối 1980 đầu 1990.[1] Ở các nền kinh tế đó, nhà nước kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản xuất, các hoạt động kinh tế được dựa trên kế hoạch hàng năm do một cơ quan chuyên trách của Nhà nước soạn thảo và được coi là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Các nền kinh tế này hầu hết đã hoặc đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường hay còn gọi là đang trong thời kỳ quá độ chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường.

Đọc tiếp

KINH NGHIỆM CỦA DOANH NGHIỆP VÀ QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

image GS. BRUCE A. BLONIGEN – Khoa Kinh tế thuộc Đại học Oregon, chuyên gia nghiên cứu của NBER, Cộng tác viên của Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu hóa và Chính sách Kinh tế Leverhulme (GEP)

Giới thiệu

Điều tra chống bán phá giá (AD) bắt đầu khi có đơn kiện của một bên trong nước có liên quan. Đây là một nhà sản xuất điển hình (hoặc một nhóm nhà sản xuất) mà sản phẩm của họ đang cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu là đối tượng của cuộc điều tra. Sau đó cơ quan có thẩm quyền điều tra sẽ xác định thực sự có bán phá giá hay không, bán phá giá được định nghĩa là việc doanh nghiệp nước ngoài bán sản phẩm với giá thấp hơn giá công bằng hay giá thông thường, và liệu những hành động thương mại như vậy có gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa trong vụ kiện hay không. Nếu những tiêu chuẩn này thoả mãn, một mức thuế chống bán phá giá tương đương với biên độ phá giá đã tính toán sẽ được áp dụng với các sản phẩm nhập khẩu. Ở Hoa Kỳ, việc tính toán biên độ phá giá do Cục Thương mại Quốc tế của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (USDOC) tiến hành, và Uỷ ban Thương mại Quốc tế (USITC) sẽ xác định tổn thất.

Có sự tác động qua lại rất lớn giữa những người đệ đơn kiện và cơ quan có thẩm quyền điều tra chống bán phá giá ở Hoa Kỳ. Bên đệ đơn phải trình cho cơ quan có thẩm quyền một đơn kiện phù hợp về trường hợp mà họ muốn điều tra và sau đó cung cấp đầy đủ thông tin cũng như các phân tích và lý lẽ pháp lý trong suốt quá trình điều tra. Các thông tin chi tiết về luật pháp cũng như cách thức mà các cơ quan của chính phủ áp dụng luật trong các trường hợp thực tế là rất quan trọng. Sự phức tạp của việc kiện tụng và quá trình đưa ra biện pháp chống bán phá giá cho thấy rằng việc các bên đệ đơn có kinh nghiệm hay có ý thức học hỏi đóng một vai trò quan trọng trong quá trình kiện và kết quả của vụ kiện chống bán phá giá. Đặc biệt, người ta cho rằng các kinh nghiệm sẵn có làm giảm chi phí kiện về sau và đồng thời cũng làm tăng ảnh hưởng của những người đệ đơn khi họ tranh cãi về vụ kiện và có nhiều khả năng thu được kết quả có lợi hơn. Việc nhận thức về những tác động như vậy rõ ràng thúc đẩy việc đệ đơn nhưng tác động của nó đến kết quả vụ kiện còn rất mơ hồ như chúng ta xem xét chi tiết ở phần tiếp theo. Mặc dù việc học hỏi có thể làm tăng khả năng đưa ra phán quyết có lợi ở những vụ kiện này, nhưng người ta lại coi trọng chi phí kiện thấp hơn là những tác động như vậy nên họ thường sẽ lựa chọn các vụ kiện thiếu lý lẽ hơn.

Đọc tiếp

QUI CHẾ NỀN KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG TRONG PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA EU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG CÁC VỤ KIỆN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA VIỆT NAM

image THS. TRẦN THU HƯỜNG – Bộ Tư pháp

Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới từ năm 2007 và chấp nhận thời hạn 12 năm cho quy chế nền kinh tế phi thị trường kể từ ngày gia nhập và không muộn hơn 31/12/2018. Hệ quả trực tiếp cam kết này đó là việc áp dụng quy chế nền kinh tế phi thị trường trong điều tra chống bán phá giá đối với hàng hóa của Việt Nam trên thị trường thế giới. Tuy nhiên trước đó hàng hóa của Việt Nam đã phải đối mặt với quy chế nền kinh tế phi thị trường trong quá trình điều tra chống bán phá của US và EU.

Bài viết này nghiên cứu các quy định của EU về chống bán phá giá đối với các nước có nền kinh tế thị trường qua việc phân tích các vụ điều tra đã thực hiện đối với hàng hóa của Việt Nam, cụ thể là chốt cải thép không gỉ (2004), xe đạp (2005) và giày mũ da (2006). Từ thực tiễn giải quyết các vụ kiện chống bán phá giá đối với Việt Nam của EU, bài viết được hy vọng là làm rõ các vấn đề pháp lý mà các doanh nghiệp Việt Nam nên lưu tâm khi tham gia các vụ kiện chống bán phá giá cũng như khi đưa ra các phản biện hợp lý và trong một chừng mực nào đó phù hợp với các tiêu chí xem xét của EU.

Quy chế nền kinh tế phi thị trường áp dụng trong điều tra chống bán phá giá được nêu tại Điều 2(7) Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 về việc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Cộng đồng Châu Âu (sau đây gọi là Quy định số 384/96). Đến Quy định của Hội đồng số 905/98 ngày 27/4/1998 sửa đổi Quy định của Hội đồng số 384/96, các quy chế đối với nền kinh tế thị trường đã được bổ sung thêm với việc mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp được áp dụng quy chế điều tra thông thường trong trường hợp đáp ứng các điều kiện nhất định. Và trong Quy định này, Việt Nam có tên trong danh sách các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường đang trong quá trình chuyển đổi. Tiếp theo, ngày 5/11/2002, Quy định của Hội đồng số 1972/2002 sửa đổi Quy định số 384/96 quy định về nguyên tắc thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng theo mức phù hợp cho mọi vụ việc, trên cơ sở không phân biệt đối xử đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nguồn khác nhau bị kết luận là có bán phá giá và gây thiệt hại. Tuy nhiên nếu như doanh nghiệp thuộc các quốc giá có nền kinh tế phi thị trường đáp ứng được các yêu cầu theo quy định thì sẽ được áp mức thuế riêng cho từng doanh nghiệp (gọi là individual treatment – IT).

Đọc tiếp

“QUI VỀ 0” (ZEROING) TRONG TÍNH TOÁN BIÊN ĐỘ PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI CÁC VỤ KIỆN CHỐNG PHÁ GIÁ TẠI MỸ

THS. NGUYỄN PHƯƠNG LAN – Giảng viên Đại học Luật Hà Nội

Những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn do chính sách bảo hộ mậu dịch của Mỹ và một trong các biện pháp rất hay được sử dụng là áp thuế chống bán phá giá. Một loạt các vụ kiện chống bán phá giá mà Mỹ tiến hành trong thời gian qua như vụ kiện cá ba sa, vụ kiện bán phá giá tôm đông lạnh… đều được tiến hành theo một cách thức chủ quan, cửa quyền và bất công đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Trước tình trạng đó, gần đây Việt Nam đang chuẩn bị kiện Mỹ ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO về ba nội dung trong pháp luật chống bán phá giá của Mỹ, trong đó phương pháp “Quy về 0” (zeroing) là vấn đề được đề cập đầu tiên.

Tìm hiểu về Zeroing là một việc làm cần thiết và mang tính thời sự, góp phần phổ biến kiến thức pháp luật về thương mại quốc tế.

1. Zeroing là gì?

Bán phá giá được định nghĩa một cách đơn giản là khi hàng hóa được bán ở nước nhập khẩu với giá thấp hơn giá trị thông thường của nó tại thị trường nội địa (thị trường nước xuất khẩu). Tuy nhiên, để xác định được doanh nghiệp xuất khẩu có bán phá giá hay không và biên độ bán phá giá thì rất không đơn giản, bởi doanh nghiệp xuất khẩu thường bán vào nước nhập khẩu nhiều lô hàng và mỗi lô hàng lại có những mức giá khác nhau. Trong một vụ việc bán phá giá thông thường, quá trình tính biên độ bán phá giá luôn trải qua từng bước như sau: (i) tính giá trị thông thường (hoặc giá trị bình quân gia quyền thông thường) của sản phẩm tương tự ở nội địa; (ii) tính giá xuất khẩu của sản phẩm bị kiện; (iii) so sánh giá trị thông thường với giá xuất khẩu theo phương pháp bình quân gia quyền. Đến lúc này, giá xuất khẩu của mỗi giao dịch bán sẽ được so sánh với giá trị thông thường của sản phẩm.

Có thể lấy ví dụ như sau: Một công ty bị kiện bán phá giá đối với sản phẩm S của mình ở Mỹ. Mỹ mở cuộc điều tra vụ kiện này. Trong giai đoạn điều tra, có 9 giao dịch của mặt hàng này tại thị trường nước xuất khẩu. Qua đó, giá trị bình quân gia quyền thông thường của S tại thị trường nội địa được xác định là 34,5 USD (sau khi đã quy đổi từ đồng tiền nội địa). Cũng trong giai đoạn điều tra, có 9 giao dịch bán sản phẩm S vào Mỹ với số lượng và giá xuất khẩu đã được xác định. Việc tính toán khối lượng bán phá giá và biên độ bán phá giá tại Mỹ được thực hiện như sau: (Xem bảng trang bên.

Đọc tiếp

KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN TRONG CÁC TRANH CHẤP LIẾN QUAN TỚI THUẾ ĐỐI KHÁNG

KEN MATSUMOTO – Chủ tịch Tập đoàn Hợp tác Quốc tế KM, Nguyên Giám đốc Trung tâm Thương mại Bình đẳng Nhật Bản

I. Kinh nghiệm của Nhật Bản trong các tranh chấp về thuế Chống trợ cấp

(1) Nhật Bản với vị trí nguyên đơn trong các vụ kiện giữa các doanh nghiệp Nhật Bản và doanh nghiệp của các quốc gia khác.

Trước đây, Nhật Bản ít khi sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại trong hạn chế hàng nhập khẩu. Chỉ có một vài cuộc điều tra về thuế Chống bán phá giá (dưới đây gọi là AD) và một vụ kiện về thuế Chống trợ cấp (dưới đây gọi là CVD) đối với sản phẩm bộ nhớ tiếp cận ngẫu nhiên năng động (DRAM) của Hàn Quốc được sản xuất và xuất khẩu bởi Công ty Hinix Semiconductor (dưới đây gọi là Hinix). Cuộc điều tra CVD được khởi xướng vào tháng 8 – 2004. Thời gian áp thuế từ tháng 1-2006 đến tháng 12-2010 với mức thuế là 27.2%. Nhóm điều tra của Chính phủ Nhật Bản gồm các quan chức đến từ Bộ Tài chính và Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI).

Liên quan tới vấn đề nền kinh tế phi thị trường, năm 1993, Nhật Bản đã công nhận Trung Quốc là nước có nền kinh tế thị trường trong vụ kiện sản phẩm Hợp kim Mangan-Silicon, chất phụ gia trong sản xuất thép. Trong một vụ kiện AD khác về MnO2 điện phân (EMD), nguyên liệu để sản xuất pin, năm 2009, Chính phủ Nhật Bản cũng đã công nhận Trung Quốc có nền kinh tế thị trường.

(2) Nhật Bản trong vai trò là Bị đơn

(A) Bị áp thuế chống trợ cấp

Trong những năm 70, đã có 9 cuộc điều tra CVD đối với các sản phẩm của Nhật Bản do Hoa Kỳ tiến hành, trong đó có 3 trường hợp bị áp thuế chống trợ cấp. Chi tiết về các vụ kiện đã không được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, cho dù có báo cáo về các vụ kiện này thì cũng không có ý nghĩa tham khảo nào bởi các vụ kiện diễn tra trước khi Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng có hiệu lực theo khuôn khổ WTO năm 1995.

Đọc tiếp

VỤ KIỆN TỰ VỆ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM – THỰC TIỄN VÀ KINH NGHIỆM

TS. HOÀNG THỊ THANH THỦY – Giảng viên Khoa Luật Đại học KTQD Hà Nội, LS tư vấn tại Văn phòng Luật Gide Loyrette Nouel

Sau gần 3 năm gia nhập WTO, thị trường Việt Nam đã có đủ thời gian để kiểm chứng những tác động của tự do hóa thương mại đem lại. Bên cạnh việc hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam được hưởng những ưu đãi thương mại khi xuất khẩu sang thị trường các nước thành viên khác của WTO, mức nhập siêu trong 11 tháng đầu năm 2009 đạt 10,417 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 20,30% kim ngạch xuất khẩu) theo số liệu thống kê của Bộ công thương cũng phần nào thể hiện sức ép cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ nhập khẩu đối với sản xuất và khu vực dịch vụ trong nước.

Trong lĩnh vực Thương mại quốc tế, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam VCCI cũng đánh giá 2009 là năm kỷ lục về số lượng các vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt nam.[1] Do các ưu thế về giá thành nguyên liệu đầu vào và giá lao động cạnh tranh, hàng hóa Việt Nam thường bị các nước nhập khẩu điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Bên cạnh việc đối phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại tại các thị trường xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới, doanh nghiệp và các hiệp hội cũng nên chủ động trong việc áp dụng các công cụ pháp lý hợp pháp theo qui định của WTO, tận dụng cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngay trên thị trường nội địa. Một trong những công cụ đó là thủ tục áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại trong trường hợp khẩn cấp, khi hàng hóa nhập khẩu có sự gia tăng đột biến, không lường trước được, gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất trong nước. Giữa năm 2009, Công ty kính nổi Viglacera (VIFG) và Công ty Kính nổi Việt Nam (VFG) đã chính thức nộp đơn yêu cầu Bộ công thương tiến hành điều tra áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại đối với sản phẩm kính nổi nhập khẩu (Float Glass). Tuy rằng các biện pháp tự vệ thương mại đối với mặt hàng kính nổi nhập khẩu theo đơn yêu cầu của nguyên đơn không được Bộ công thương chấp nhận do kết quả điều tra cuối cùng cho thấy không đủ điều kiện áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại theo qui định của WTO. Song đối với hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam, đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng bởi lần đầu tiên doanh nghiệp trong nước đã chủ động yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi của mình theo qui định của pháp luật WTO. Đây cũng là lần đầu tiên kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam chính thức tiến hành thủ tục điều tra và cân nhắc áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại với tư cách quốc gia nhập khẩu.

Đọc tiếp

BÁN PHÁ GIÁ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆT NAM

LÂM MINH CHÂU – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra các thách thức to lớn cho các quốc gia cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới. Các quốc gia này phải đối mặt với những khó khăn trong đẩy mạnh xuất khẩu do các nước nhập khẩu đã tận dụng những qui định mở để tạo ra những rào cản mới như chống bán phá giá, chống trợ cấp…để bảo hộ sản xuất trong nước. Bài viết này đề cập đến một số qui định của WTO về bán phá giá hàng hóa và tình hình về các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đối với Việt Nam. Từ đó đề xuất những giải pháp để chủ động phòng ngừa và tích cực đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của các doanh nghiệp Việt Nam.

1. Các quy định của WTO về bán phá giá

Theo Hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADP) bán phá giá là việc bán một hàng hoá nào đó với giá thấp hơn giá của nó trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Nói một cách đơn giản, để xác định hành động bán phá giá ta phải so sánh giá cả ở hai thị trường. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định giá hàng hoá ở thị trường nước xuất khẩu (giá trị bình thường) và giá ở thị trường nước nhập khẩu (giá xuất khẩu) để tạo ra cơ sở chính xác cho sự so sánh giá trên hai thị trường là khá phức tạp.

Theo WTO, giá trị bình thường của hàng hoá là giá của hàng hoá đã được ấn định phụ thuộc vào sức tiêu thụ trên thị trường nước xuất khẩu. Khi không có giá nội địa để so sánh thì gía trị bình thường được coi là tổng các chi phí sản xuất, tiêu thụ hàng hoá cộng với một phần lợi nhuận nào đó. Hoặc theo cách khác, giá trị bình thường có thể là giá xuất khẩu sang một nước thứ ba.Trong trường hợp khi nước xuất khẩu chưa được công nhận là có nền kinh tế thị trường thì giá trị bình thường được xác định trên cơ sở giá hàng hoá tương tự của một nước thứ ba có nền kinh tế thị trường.

Giá xuất khẩu hàng hoá thường được xác định trên cơ sở giá giao dịch giữa người xuất khẩu và nhập khẩu tại nước nhập khẩu.Tuy nhiên, giá giao dịch có thể không được chấp nhận là giá xuất khẩu trong trường hợp buôn bán đối lưu, hoặc trao đổi nội bộ.

Đọc tiếp

NHỮNG YẾU TỐ LÀM GIẢM KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ CỦA VIỆT NAM TRONG CÁC VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ

NGUYỄN NGỌC SƠN – Đại học Luật TPHCM & NGUYỄN PHI THĂNG – Sở Nội vụ Lâm Đồng

Tại bài viết “Giảm thiểu thiệt hại trong các vụ kiện chống bán phá giá ở nước ngoài khi các doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn” trên Nghiên cứu Lập pháp số tháng 11/2007, chúng tôi đã phân tích cụ thể tổng quan về các vụ kiện bán phá giá mà doanh nghiệp Việt Nam là bị đơn. Từ thực tiễn ấy, chúng ta đã nhận ra những hạn chế trong nhận thức và kinh nghiệm của các doanh nghiệp cũng như sự thụ động của các Hiệp hội, các cơ quan hữu trách. Để làm rõ vấn đề hơn nữa, chúng tôi tập trung phân tích về mặt lý luận và nhận thức những hạn chế cơ bản được coi là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp trong các vụ việc về bán phá giá.

1. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ứng phó của doanh nghiệp Việt Nam

1.1 Chưa nhận thức đúng đắn về bản chất pháp lý của hiện tượng bán phá giá

Có lẽ, vấn đề bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá sẽ không tạo ra sự quan tâm của xã hội và luật pháp nếu không có sự kiện các sản phẩm cá tra, cá basa của Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ bị cho là bán phá giá nên bị áp thuế chống bán phá giá đe dọa đến sự thịnh vượng của nhiều ngành kinh tế đang phát triển như chăn nuôi, chế biến … trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới. Khoa học pháp lý Việt Nam đã tiếp nhận các lý thuyết về bán phá giá, pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu trong bối cảnh doanh nghiệp của chúng ta đang là bị đơn. Pháp luật chống bán phá giá được xây dựng không từ nhu cầu thực tế thị trường mà từ sức ép của quá trình hội nhập với tâm trạng bất bình về những tổn thất do biện pháp chống bán phá giá được các nước áp dụng đang gây ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy, sự hạn chế trong hiểu biết về bản chất pháp lý của hành vi bán phá giá là điều tất yếu. Thực trạng pháp luật về chống bán phá giá đủ để chứng minh cho nhận định trên.

Đọc tiếp

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở EU

SAGA.VN – ĐỖ MINH TUẤN (Asia Law)

Trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đã phải va chạm với các vụ kiện chống bán phá giáở EU. Để giúp các doanh nghiệp có những hiểu biết ban đầu để có định hướng khi vướng phải vụ việc bán chống bán phá giá, chúng tôi xin chia sẻ một vài hiểu biết cơ bản về các cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thủ tục giải quyết vụ việc chống bán phá giá ở EU.

Các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc chống bán phá giá của EU

Vụ việc chống bán phá giá được khởi xướng bằng đơn kiện của thể nhân, pháp nhân hoặc hiệp hội hành động nhân danh ngành sản xuất nội địa của EU và được giải quyết thông qua các thủ tục luật định bởi các cơ quan có thẩm quyền của EU.

1. Ủy ban Châu Âu (European Commission):

Ủy ban Châu Âu (UBCA) là cơ quan tiếp nhận đơn kiện và có các thẩm quyền chính sau:

-    Quyết định khởi xướng điều tra; chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức điều tra chống bán phá giá bao gồm cả điều tra về việc bán phá giá và điều tra thiệt hại; Tổ chức phiên họp điều trần để nguyên đơn và bị đơn đối thoại, tranh luận trực tiếp với nhau;
-    Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
-    Chấp nhận cam kết về giá;
-    Quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời nếu có sự vi phạm hoặc rút lại cam kết về giá khi việc điều tra chưa kết thúc; quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá chính thức khi có sự vi phạm hoặc rút lại cam kết về giá và việc điều tra đã kết thúc;
-    Quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ việc;
-    Đề xuất Hội đồng Châu Âu ra quyết định áp dụng biện pháp chính thức (áp đặt thuế chống bán phá giá);
-    Quyết định hoãn biện pháp chống bán phá giá vì lợi ích cộng đồng;
-    Quyết định bắt đầu và tiến hành “rà soát hoàng hôn” hoặc “rà soát lại”

Đọc tiếp

TÓM TẮT TÌNH HÌNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRÊN THẾ GIỚI NĂM 2008

Đây là một cuộc rà soát về việc thực thi các biện pháp cạnh tranh thương mại không bình đẳng và chống bán phá giá toàn cầu. Báo cáo không mang tính chất điểm tin tổng quát mà là tổng hợp lại các vấn đề nổi bật để xem xét, đánh giá một cách không chính thống. Trước khi quyết định hành động về bất kỳ vấn đề gì trong báo cáo này, hãy hỏi ý kiến chuyên gia.

1. Thực trạng bảo hộ thương mại thế giới năm 2008

Xét một cách tổng thể, hoạt động chống bán phá giá duy trì ở mức tương đối ít, mặc dù có chiều hướng tăng nhẹ trong 6 tháng đầu năm 2008.

Các hoạt động đáng chú ý trong nửa đầu năm 2008 là:

· Theo các số liệu từ WTO, Thổ Nhĩ Kỳ là nước sử dụng các biện pháp chống bán phá giá nhiều nhất trong nửa đầu năm 2008. Đây là lần đầu tiên Thổ Nhĩ Kỳ dẫn đầu danh sách các nước sử dụng nhiều các biện pháp chống bán phá giá nhất.

· Tỷ lệ các cuộc điều tra chống bán phá giá nhằm vào Trung Quốc có xu hướng gia tăng mạnh mẽ. Trong 6 tháng đầu năm 2008, 44% các cuộc điều tra chống bán phá giá mới khởi xướng có liên quan tới Trung Quốc

· Số lượng các cuộc điều tra chống bán phá giá liên quan tới hàng dệt may và giày da tăng mạnh, phản ảnh một thực tế là giảm các hạn ngạch đối với các mặt hàng này do hết hạn hạn ngạch MFA.

· Hoạt động tự vệ trong thương mại quốc tế ở mức trung bình, mặc dù có 2 trong số 5 vụ điều tra mới khởi xướng tính tới tháng 11/2008 có liên quan tới hàng dệt may.

Đọc tiếp

%d bloggers like this: