CHUYỆN THẬT NHƯ ĐÙA: ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI VẪN MUA ĐƯỢC NHÀ THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 61/NĐ-CP

HỒNG HIỆP

Đã hoàn thành thủ tục xuất cảnh và sang định cư ở Mỹ, nhưng bằng mọi cách, Nguyễn Ngọc Anh vẫn hóa giá thành công căn nhà số 337/2/6 (phần phụ nhà biệt thự) đường Lê Văn Sỹ, phường 1 quận Tân Bình – TPHCM rồi sau đó nhanh chóng chuyển nhượng thành công cho người khác.

“Phù phép”

Theo tài liệu mà bà L.- vợ đầu của người bị tố cáo (ông Nguyễn Ngọc Anh) cung cấp cho các cơ quan chức năng thì căn nhà số 337/2/6 Lê Văn Sỹ, phường 1 quận Tân Bình – TPHCM có nguồn gốc là nhà Nhà nước, do Công ty Quản lý kinh doanh nhà TP quản lý. Một phần phụ nhà biệt thự (có vị trí thuộc thửa số 9 tờ 33) do Công ty Quản lý Kinh doanh nhà TP bán hóa giá cho ông Nguyễn Ngọc Anh ngày 18-4-2007 với diện tích 88m². Theo tinh thần của Nghị định 61/CP quy định thì Chính phủ cho phép hóa giá những căn nhà này với điều kiện không xuất cảnh định cư ở nước ngoài. Thế nhưng, Nguyễn Ngọc Anh đã định cư nước ngoài theo diện H.O nhiều năm nay và hồ sơ thể hiện rõ tại Cục Xuất Nhập cảnh – Bộ Công an.

Theo quy định, căn nhà trên phải trả về cho Nhà nước vì tất cả những người trong nhà đều đã xuất cảnh sang Mỹ định cư. Để “phù phép” có được căn nhà này, trong suốt 2 năm 2006 – 2007 ông Nguyễn Ngọc Anh từ Mỹ đã trở về Việt Nam liên tục khi được thông báo thông tin cơ quan chức năng đang làm thủ tục đo đạc nhà.

Không chỉ lừa được cán bộ đo đạc, ông Ngọc Anh còn mạo danh cả chữ ký của một chiến sĩ Công an phường 1 quận Tân Bình khi xác nhận tại phường về việc không đi xuất cảnh, đang ở Việt Nam để được hóa giá nhà. Ngay sau khi được hóa giá nhà, ông Ngọc Anh đã lập tức sang tên lại cho bà N.T.Q, và rút sang Mỹ!

Đọc tiếp

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: NHẬN THỨC LUẬT VÊNH NHAU, DÂN LÃNH ĐỦ

HOÀNG LAM

Quy định đã hết hiệu lực nhưng cơ quan thi hành án vẫn vịn vào đó để ách các giao dịch hợp pháp.

Báo Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh nhiều trường hợp người mua nhà gặp rắc rối bởi các khoản nợ của chủ cũ. Mua nhà có chủ quyền hợp lệ, đi công chứng hợp đồng hẳn hòi, thậm chí có trường hợp đã đăng bộ xong nhưng người mua vẫn không thể thực hiện quyền sở hữu nhà.

Ai bảo mua nhà của người mắc nợ!

Như bà P. (quận 6, TP.HCM) bị cơ quan thi hành án dọa kê biên căn nhà mà bà đã mua để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của chủ cũ vì chủ cũ mắc nợ người khác hơn 130 triệu đồng. Hay ông S. (thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè) cũng mắc kẹt vì chủ cũ mắc nợ người khác hơn 100 triệu đồng. Căn nhà mà chủ cũ đã bán cho ông cần phải kê biên để thi hành án.

Cơ quan thi hành án dựa vào Thông tư liên tịch số 12 ngày 26-2-2001 của Bộ Tư pháp và VKSND tối cao để lý giải quyền kê biên căn nhà của chủ cũ, ách lại giao dịch mua bán nhà hợp pháp đã thực hiện xong của người dân. Điểm a khoản 1 mục IV thông tư này quy định: “Đối với các trường hợp sau khi có bản án, quyết định của tòa án, người phải thi hành án đã chuyển nhượng các tài sản thuộc quyền sở hữu của mình thì chấp hành viên có quyền kê biên tài sản đó và có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ giao dịch đó. Người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hoặc khởi kiện yêu cầu tòa án hủy bỏ giao dịch đó”.

Căn cứ vào quy định này, cơ quan thi hành án cho rằng người mua có thể khởi kiện chủ cũ ra tòa về hợp đồng mua bán nhà đã ký kết.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: CHIẾC MERCEDES BỊ LẤY CẮP

HOÀNG YẾN

Xe bị trộm để “luộc” đồ, đơn vị bảo hiểm từ chối chi trả vì cho rằng không phải trường hợp bị mất toàn bộ do cướp có vũ trang…

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM sắp xử vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa Công ty TNHH Thương mại dịch vụ Thi Quan và Tổng Công ty cổ phần Bảo Minh.

Xe bị “luộc” đồ

Theo đơn khởi kiện của Thi Quan gửi TAND TP.HCM hồi tháng 3, đầu năm 2008, Thi Quan có mua bảo hiểm của Bảo Minh cho chiếc ôtô Mercedes năm chỗ của công ty trong thời gian một năm và đã đóng đủ tiền bảo hiểm gần 15 triệu đồng.

Tối 11-7-2008, giám đốc Thi Quan đến một nhà hàng trên đường Tân Phước, phường 6 (quận 10) ăn uống cùng bạn bè. Một lúc sau ông này được tài xế báo cho biết là chiếc xe đã bị mất cắp. Theo lời tài xế, sau khi giám đốc Thi Quan vào nhà hàng, tài xế cho xe cặp sát lề đường trước nhà hàng, xuống xe khóa cửa rồi đi bộ ra nơi khác ăn hủ tiếu, lúc về thì thấy xe đã biến mất.

Công an phường 6 đến lập biên bản việc mất cắp xe, có nhân viên bảo vệ nhà hàng xác nhận trước đó có nhìn thấy chiếc xe trên. Hôm sau, Công an huyện Đức Hòa (Long An) phát hiện ra chiếc Mercedes này nằm trơ trọi giữa một cánh đồng mía nhưng đã bị cậy phá lấy cắp hàng loạt phụ tùng như đèn pha, đèn xi nhan, huy hiệu, kính chiếu hậu, đèn sau, vỏ lốp, đồ nghề mở vỏ, nắp nhớt xăng…

Một tuần sau, Công an quận 10 đã lập biên bản trao trả xe cho Thi Quan. Sau đó, Thi Quan yêu cầu Bảo Minh chi trả bảo hiểm nhưng đơn vị bảo hiểm cho rằng trường hợp này không thuộc phạm vi bảo hiểm nên từ chối. Không đồng ý, Thi Quan đã khởi kiện yêu cầu Bảo Minh phải thanh toán khoảng 174 triệu đồng, bao gồm chi phí giám định thiệt hại, chi phí thay phụ tùng bị mất, phí lưu bãi, chi phí kéo xe từ Long An về Công an quận 10…

Đọc tiếp

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: VÌ ĐÂU VỤ ÁN HƠN 10 NĂM CHƯA KẾT THÚC?

LA MINH

Vụ án dân sự đã đến cấp xét xử cao nhất nhưng người trong cuộc vẫn chưa "tâm phục, khẩu phục", khiến dư luận hết sức băn khoăn?

Năm 1995, ông Võ Anh Tuấn và bà Nguyễn Thị Thêm – trú tại khối 8 P. Lê Lợi, TP.Vinh cho vợ chồng ông Lê Quang Toản và Trần Thị Nam – trú khối 13 P.Lê Lợi, TP.Vinh vay tiền. Đến hạn, phía ông Toản không trả nợ, ông Tuấn và bà Thêm khởi kiện vụ án dân sự lên TAND TP.Vinh, Nghệ An.

Ngày 11.1.1997, TAND TP.Vinh ra bản án số 01, 02 buộc ông Toản phải hoàn nợ cho ông Tuấn và bà Thêm cả số vay gốc và lãi đến thời điểm phải trả là 345 triệu đồng. Khi án có hiệu lực, vợ chồng ông Toản vẫn không trả, ngày 29.3.2007, Đội thi hành án (THA) TP.Vinh ra quyết định cưỡng chế kê biên ngôi nhà hai tầng tại khối 13, P. Lê Lợi của ông Toản và thông báo bán đấu giá trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng không có người mua.

Ngày 6.5.2007, Đội THA kê biên ngôi nhà trên trị giá 278 triệu đồng, giao cho ông bà Tuấn và Thêm để trừ vào tiền thi hành án. Nhưng đến ngày 20.12.1997, Đội THA TP.Vinh lại huỷ biên bản đã kê biên và bàn giao nhà. Ông Tuấn và bà Thêm gửi đơn khiếu nại; ngày 16.11.2001 TAND Nghệ An xét xử, ra bản án số 7, buộc Đội THA TP.Vinh thu hồi ngôi nhà ông Toản từ việc đã giao nhà bất hợp pháp cho ông Tuấn và bà Thêm, để trả cho ngân hàng xử lý theo quy định về tài sản thế chấp của ngân hàng. Toà phúc thẩm – TAND Tối cao tại Hà Nội ngày 6.4.2005 ra bản án số 75 cũng quyết định như trên.

Ông Tuấn và bà Thêm không nhất trí với quyết định của tòa án, vì từ một vụ kiện khác không hề liên quan đến quyền sở hữu hợp pháp ngôi nhà đã được bàn giao. Đó là ông Phạm Quốc Kỳ – trú khối 6, P. Đội Cung, TP.Vinh – khởi kiện NHNT Vinh mà Tòa phúc thẩm đang thụ lý vụ kiện tranh chấp hợp đồng mua bán nhà. Ông Tuấn và bà Thêm đã gửi đơn tố cáo đến cơ quan điều tra việc NHNT Vinh dựng chứng từ giả, tài liệu giả; tố cáo TAND từ cấp sơ thẩm đến phúc thẩm xét xử mối quan hệ không có thật ra bản án trái pháp luật, gây thiệt hại tiền nhà nước tại NHNT Vinh, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp ngôi nhà của ông, bà đã được Cơ quan THA giao để THA.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: KHÔNG LẬP HỢP ĐỒNG, MẤT CẢ TỶ ĐỒNG

HOÀNG LAM

Dù con nợ đã ký nhận số tiền vay nhưng chủ nợ vẫn thua kiện ở hai cấp tòa.

Chị Trương Thị X. (đường Cách Mạng Tháng Tám, quận 10, TP.HCM) có quan hệ họ hàng với vợ chồng bà O. Đầu năm 2008, chị X. nộp đơn kiện đòi vợ chồng bà O. trả cho mình hơn 1,4 tỷ đồng.

Bên buộc

Chị X. liệt kê cả thảy 13 lần giao tiền vay cho vợ chồng bà O. với tổng số tiền lên đến hơn 1,6 tỷ đồng. Các lần giao tiền này kéo dài từ giữa năm 2006 đến tháng 10-2007. Chị X. nói mình rất tin tưởng họ hàng nên không lập giấy nợ. Chị chỉ ghi số tiền cho vay vào sổ để tiện theo dõi. Có lần chồng bà O. còn đưa hai bản phôtô giấy đỏ để cấn trừ nợ nhưng chị từ chối.

Khi bên vay ngưng trả lãi, chị sốt ruột lui tới hỏi thăm thì được tin chồng bà O. đã bỏ trốn vì chuyện riêng. Để trấn an chị, bà O. cung cấp các địa chỉ nhà mà chồng mình thường lui tới. Cuối tháng 11-2007, bà O. trả cho chị X. 200 triệu đồng. Sang đầu tháng 12-2007, bà O. yêu cầu chị X. lập giấy biên nhận ghi rõ đã nhận 200 triệu đồng, được cấn trừ vào hơn 1,6 tỷ đồng tiền vay. Giấy biên nhận này có chữ ký của bà O. Như vậy, số tiền vay còn lại chưa trả là hơn 1,4 tỷ đồng.

Chị X. còn xuất trình được băng ghi âm thể hiện anh ruột của chồng bà O. hứa trả thay cho em mình 700 triệu đồng. Theo chị X., phải biết rõ số tiền vay thì người này mới chấp nhận gánh thay một số tiền lớn như thế.

Bên chối

Ngược lại, vợ chồng bị đơn hoàn toàn phủ nhận chuyện vay tiền. Chồng bà O. nói vì mâu thuẫn vợ chồng nên ông bỏ nhà đi nơi khác, không biết vợ mình cầm 200 triệu đồng trả cho chị X. Ông còn bảo hai bản phôtô giấy đỏ ông đưa chị X. là để nhờ chị rao bán đất giùm, không phải để cấn trừ nợ.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN HÀNH CHÍNH: TỈNH THUA KIỆN NHƯNG KHÔNG CHỊU THI HÀNH ÁN

HOÀNG YẾN

Pháp luật đang thiếu quy định cụ thể để xử lý, chế tài cơ quan quản lý nhà nước thua kiện nhưng không tôn trọng phán quyết của tòa.

Việc khởi kiện hành chính dường như là một việc bất đắc dĩ đối với người dân bởi không ít người có tâm lý là “con kiến kiện củ khoai”. Nhưng một khi đã thắng kiện, để được thi hành án cũng là một hành trình đầy gian nan, mệt mỏi như vụ việc dưới đây của vợ chồng ông Phạm Ngọc Dũng, ngụ TP Vũng Tàu.

Long đong khiếu nại mới được đền bù

Theo hồ sơ, tháng 5-2001, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thu hồi gần 60.000 m2 đất tại phường 6, TP Vũng Tàu (trong đó có hơn 30.000 m2 đất nông nghiệp của vợ chồng ông Dũng) để giao cho Công ty cổ phần Phát triển nhà tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu sử dụng. Sau đó, vợ chồng ông Dũng không được UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đền bù giá trị quyền sử dụng đất, chỉ được hỗ trợ một lần giá đất nông nghiệp và bồi thường hoa màu, vật kiến trúc trên đất, tổng cộng khoảng 500 triệu đồng.

Tháng 5-2006, vợ chồng ông Dũng khiếu nại đến UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu về việc không được đền bù giá trị quyền sử dụng đất. Chủ tịch UBND tỉnh này công nhận khiếu nại của vợ chồng ông là đúng và tháng 4-2007 đã ra Quyết định 1477 hỗ trợ bổ sung đền bù thêm cho vợ chồng ông hơn 2,3 tỷ đồng.

Cho rằng UBND tỉnh áp giá và xác định vị trí loại đường để bồi thường chưa đúng, vợ chồng ông Dũng tiếp tục khiếu nại. Tháng 12-2007, chủ tịch UBND tỉnh chấp nhận một phần nội dung khiếu nại, ra Quyết định 4678 điều chỉnh lại giá và nâng tổng kinh phí bồi thường lên hơn 6,8 tỷ đồng.

Thắng kiện lại không được thi hành án

Vợ chồng ông Dũng vẫn cho rằng UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu áp dụng sai vị trí đất để bồi thường nên tháng 1-2008 đã khởi kiện yêu cầu TAND tỉnh này hủy cả hai quyết định 1477 và 4678 của UBND tỉnh.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON KHI LY HÔN: LY HÔN TÒA LẠI GIAO CON CHO BÀ NGOẠI

NGUYÊN TRƯỜNG

Theo luật, chỉ khi cha mẹ, anh, chị, em không còn thì ông bà nội, ông bà ngoại mới có quyền nuôi dưỡng cháu.

TAND TP Bến Tre (Bến Tre) vừa có văn bản kiến nghị gửi chánh án TAND tỉnh Bến Tre về một bản án ly hôn của tòa này bị TAND tỉnh sửa trước đó.

Sơ thẩm: Cha được nuôi

Theo hồ sơ, cuối năm 2008, anh N. nộp đơn ra TAND thị xã Bến Tre (nay là TP Bến Tre) xin ly hôn với chị Ng.

Tại phiên sơ thẩm tháng 11-2008, anh N. khai vợ chồng họ kết hôn năm 2003, nay đã có một con chung năm tuổi. Sau hai năm chung sống tại TP.HCM, vợ chồng bất đồng quan điểm nên chị Ng. đem con về sống với cha mẹ ruột tại Bến Tre. Nay anh yêu cầu tòa cho ly hôn và được trực tiếp nuôi con, còn tài sản chung và nợ chung thì không có gì.

Ở phiên xử này, chị Ng. chỉ có bản tự khai gửi đến tòa do trước đó chị phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, đang phải thụ án sáu năm tù. Theo bản tự khai, chị đồng ý ly hôn, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung mà chỉ yêu cầu được nuôi con.

TAND thị xã Bến Tre nhận định về mặt hôn nhân, hai bên đương sự đều thuận tình chia tay. Về mặt nuôi dưỡng con chung, chị Ng. đang thụ án tù, không có điều kiện nuôi con. Vì vậy, tòa đã chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N., giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Tòa cũng ghi nhận là nếu sau này, vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên thì tòa có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Phúc thẩm: Bà ngoại được nuôi

Sau đó, chị Ng. có đơn kháng cáo gửi từ trại giam, yêu cầu tòa phúc thẩm giao con cho mình nuôi. Tháng 3-2009, TAND tỉnh Bến Tre xử phúc thẩm đã ra phán quyết trái ngược hoàn toàn so với cấp sơ thẩm: Giao quyền nuôi con cho chị Ng. Vì chị Ng. đang thụ án tù nên tòa giao cho mẹ chị tiếp tục nuôi dưỡng cháu bé cho đến khi chị chấp hành án xong.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN MUA NHÀ: XUNG QUANH VỤ BÁN “LÚA NON” Ở QUẬN CẦU GIẤY (HÀ NỘI), “BÙNG NHÙNG” CHƯA LỐI THUÁT . . .

THIÊN LONG – ĐÔNG HƯNG

Thuận mua vừa bán, nhiều người dân quận Cầu Giấy đã nhận tiền đặt cọc, làm hợp đồng chuyển nhượng quyền mua nhà tái định cư và chấp thuận công chứng ký tên, điểm chỉ vào Hợp đồng ủy quyền bất động sản cho người khác có nhu cầu mua lại. Sau đó, những người bán lúa non (nhà tái định cư trước khi bốc thăm) này lại làm đơn tố cáo người mua lừa đảo để mua lại các căn hộ tái định cư của họ. Sự vụ này đang gây xôn xao dư luận trong mấy ngày qua.

Tiên trách kỷ

Câu chuyện tranh chấp này bắt nguồn từ Dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn I (nay là Dự án Thoát nước cải thiện môi trường Hà Nội – Dự án II) đoạn qua địa bàn phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Được biết, Dự án này đã hoàn tất việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người dân có đất phải thu hồi để phục vụ cho Dự án từ năm 2007. Hài hoà lợi ích của Nhà nước và người dân, ngày 25.6.2009, UBND TP. Hà Nội có văn bản số 5911/UBND-TNMT về việc "Bổ sung chính sách bán nhà tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn II trên địa bàn quận Cầu Giấy". Theo đó, hộ gia đình bị thu hồi đất ở với diện tích nhỏ hơn 20m2, nhưng lớn hơn 10m2, diện tích còn lại nhỏ hơn 40m2; hộ gia đình bị thu hồi đất ở diện tích lớn hơn 20m2, diện tích còn lại nhỏ hơn 80m2 được mua một căn hộ chung cư cao tầng tại khu 5,3ha Dịch Vọng, Cầu Giấy.

Đối chiếu với chính sách trên, nhiều hộ dân ở phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy có đất nằm trong Dự án được mua nhà tái định cư. Quá trình mua nhà tái định cư, nhiều hộ dân đã bán "lúa non" (bán trên giấy tờ trước khi trả đủ tiền nhà).

Đọc tiếp

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: ẤM ỨC VIỆC TÒA TỪ CHỐI GIÁM ĐỊNH CHỨNG CỨ

HOÀNG LAM

Cho rằng giấy biên nhận nợ là giấy khống, bị đơn đề nghị tòa trưng cầu giám định nhưng tòa lại từ chối.

Nộp đơn khởi kiện đòi nợ, ông T. cho biết: Tháng 8-2007, bà P. vay của ông 300 triệu đồng với lãi suất thỏa thuận. Giấy biên nhận nợ có chữ ký của hai bên ghi rõ khi nào ông T. muốn lấy lại tiền, ông chỉ cần báo cho bà P. biết trước một tháng. Đến tháng 4-2008, ông T. yêu cầu bà P. trả tiền nhưng bà không trả.

Phủ nhận giấy biên nhận nợ

Bà P. khẳng định giấy biên nhận nợ do ông T. cung cấp là chứng cứ giả mạo. Bà cho biết vào năm 2007, bà có mua 300 m2 đất và nhờ ông T. làm giúp thủ tục tách thửa. Khi đang thực hiện thủ tục này, chủ đất tiếp tục bán cho bà 200 m2 đất còn lại. Vì vậy, bà đã nhờ ông T. rút hồ sơ tách thửa để làm hồ sơ chuyển nhượng toàn bộ thửa đất.

Khi đó, ông T. kêu bà ký tên sẵn vào góc dưới một tờ giấy tập màu trắng để ông làm đơn xin rút hồ sơ. Sau đó, ông T. dùng tờ giấy khác để viết đơn xin rút hồ sơ và ký giả tên bà. Với tờ giấy tập có chữ ký của bà P., ông T. tự viết vài chữ thể hiện việc cho vay tiền.

Để chứng minh mình không vay tiền của ông T., bà P. cho biết vào tháng 8-2008, em ông T. có hỏi vay của bà 200 triệu đồng dưới sự bảo lãnh của ông. Bà bảo nếu bà nợ 300 triệu đồng thì anh em ông T. phải đòi nợ bà chứ sao lại phải đi vay tiền của bà.

Bà P. từng nộp đơn tố cáo ông T. vu khống mình vay 300 triệu đồng tại cơ quan công an. Theo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thủy, giấy biên nhận vay tiền do chính ông T. viết, còn bà P. cũng đã ký tên vào giấy. Cơ quan này chưa đủ cơ sở kết luận về nội dung tố giác của bà P.

Xét xử không cần giám định

Xử sơ thẩm giữa tháng 8-2009, TAND quận Bình Thủy nhận định: “Việc em ông T. vay 200 triệu đồng của bà P. không có nghĩa là ông T. không thể cho bà P. vay tiền”… Đọc tiếp

3995

THANH TÙNG

Huyện bảo 34 m2, tỉnh nói 43 m2, tòa sơ thẩm lại tăng 59 m2. Ai đúng, ai sai?

Theo hồ sơ, năm 1991, bà B. có mua một căn nhà tại thị trấn Cai Lậy và đã được UBND huyện Cai Lậy cấp giấy chủ quyền. Bốn năm sau, bà cho người cậu ruột ở nhờ với lời giao kết miệng: “Tôi cho cậu ở nhờ, đến lúc nào có nhà thì cậu trả lại cho tôi. Cậu cứ sửa chữa, tu bổ nhà để ở cho thoải mái”. Cùng năm đó, do người cậu mất nên con trai ông (là ông D.) tiếp tục ở nhờ.

Hai giấy chứng nhận

Mọi chuyện diễn ra bình thường cho đến khi bà B. làm thủ tục đổi lại giấy chứng nhận. Bà hết sức bất ngờ với thông tin vào năm 2004, ông D. đã được UBND tỉnh Tiền Giang cấp giấy hồng cho chính căn nhà ở nhờ nói trên.

Tranh chấp xảy ra, ông D. bảo căn nhà đó của cha mình mua từ năm 1991 nhưng lúc đó vì chưa có hộ khẩu ở thị trấn nên ông đã nhờ bà B. đứng tên giùm. Sau khi cha ông sửa lại nhà, bà B. đã cầm giấy chủ quyền đến đòi nhà. Bấy giờ, cha ông đã cho bà B. hai chỉ vàng nên bà B. không tranh chấp nữa. Sau khi cha mất, ông đã đứng tên xin cấp giấy chủ quyền nhà. Không thỏa thuận được, bà B. đã khởi kiện đòi lại nhà cho ở nhờ.

Xử sơ thẩm cuối năm 2008, TAND huyện cho rằng giấy chủ quyền của bà B. hợp pháp bởi khi tòa hỏi thì chính UBND huyện Cai Lậy đã có công văn khẳng định điều này. Mặt khác, bà B. trưng ra được hợp đồng mua bán gốc năm 1991 với chủ nhà cũ như đã khai. Ngược lại, giấy chủ quyền của ông D. không hợp pháp vì ông được cấp theo diện thừa kế trong khi cha ông không có giấy tờ nhà. UBND huyện Cai Lậy đã làm sai quy định khi đề nghị UBND tỉnh Tiền Giang cấp chủ quyền cho ông D. dựa trên cơ sở có người làm chứng và nội dung xác nhận không có tranh chấp. Cách xử lý này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà B. vì tại thời điểm đó bà vẫn là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà.

Đọc tiếp

%d bloggers like this: