MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP

TS. LÊ XUÂN NGHĨA –  Vụ trưởng, Vụ chiến lược phát triển – Ngân hàng Nhà nước VN

1. Chính sách tỷ giá hối đoái hiện nay

Chính sách tỷ giá hối đoái hiện nay nặng về quản lý tỷ giá hối đoái danh nghĩa, thiếu các phân tích và đánh giá thường xuyên về tỷ giá hối đoái thực và mức độ tác động đến lạm phát, xuất khẩu … để có chính sách điều chỉnh thích hợp.

Chính sách tỷ giá hối đoái neo chặt vào USD về cơ bản ổn định (mức độ phá giá không quá 1%/năm) trong khi lạm phát khá cao. Điều này tạo ra nhiều hiệu ứng phức tạp, cụ thể:

– Doanh nghiệp có thói quen ỷ lại vào tỷ giá ổn định, tận dụng lợi thế về tài nguyên và lao động rẻ, ít chú ý đến đổi mới công nghệ và giá trị gia tăng của sản phẩm, không quan tâm phòng ngừa rủi ro hối đoái; không lựa chọn các đồng tiền thanh toán có lợi thế. Vì vậy, doanh nghiệp thường có phản ứng thái quá khi VND lên giá nhẹ. Trong khi đó, các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN đã vượt qua dễ dàng áp lực các đồng tiền bản địa lên giá mạnh so với USD (khoảng từ 20-25%) trên cơ sở cải tiến công nghệ, tiết kiệm chi phí và thay đổi thị trường mục tiêu, thay đổi đồng tiền thanh toán, thực hiện các công cụ phái sinh phòng ngừa rủi ro hối đoái.

– Do tỷ giá hối đoái căn bản ổn định (không có rủi ro hối đoái) nên các nhà đầu tư dễ dàng tận dụng chênh lệch lãi suất nội tệ và ngoại tệ; chênh lệch lãi suất trong nước và quốc tế để đầu cơ tiền tệ, khiến cho thị trường biến động mạnh, tình trạng thừa, thiếu ngoại tệ rất khó dự báo, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Trong điều kiện thắt chặt tiền tệ, với chính sách tỷ giá như trên cũng làm tăng xu hướng các ngân hàng thương mại vay vốn ngắn hạn từ nước ngoài (kể cả ngân hàng nước ngoài) mà chủ yếu để tài trợ nhập khẩu. Điều này cũng làm tăng đáng kể rủi ro đối với an toàn hệ thống ngân hàng (giống như tình hình Thái Lan trước khủng hoảng 1997).

– Giao dịch tài khoản vốn về cơ bản đã được tự do hóa ngoại trừ một số hạn chế kỹ thuật và các giới hạn tỷ lệ nắm giữ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài. Điều này đòi hỏi chính sách tỷ giá hối đoái cần được linh hoạt hơn và sự phối hợp chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước cần chặt chẽ hơn. Chính sách tỷ giá hối đoái càng linh hoạt (biên độ tỷ giá hối đoái càng rộng) thì hiệu ứng của các công cụ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước càng mạnh mẽ.

Đọc tiếp

QUẢN LÝ BẤT ĐỘNG SẢN – "SÂN CHƠI" MỚI CỦA CÁC CÔNG TY KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN TRONG NƯỚC

image TS. NGUYỄN THẾ PHÁN

Quản lý bất động sản (BĐS) là một trong nhiều lĩnh vực kinh doanh BĐS nhưng ở nước ta, hầu hết các cao ốc văn phòng, các cao ốc căn hộ cao cấp, các cao ốc trung tâm thương mại dịch vụ đều do các công ty quản lý BĐS quốc tế đảm nhiệm. Các công ty kinh doanh BĐS trong nước muốn “chen chân” và cạnh tranh trong lĩnh vực này cần phải làm gì?

Hoạt động kinh doanh bất động sản (BĐS) nhìn chung rất đa dạng và phức tạp. Cùng với xu hướng phát triển của nền kinh tế, với xu thế hội nhập quốc tế, các hoạt động kinh doanh BĐS cũng không ngừng được mở rộng và dần được nâng cao về chất lượng và hiệu quả. Quản lý BĐS là một lĩnh vực quan trọng trong kinh doanh BĐS, nhất là đối với các cao ốc căn hộ cao cấp, các cao ốc văn phòng cho thuê, các trung tâm thương mại, dịch vụ, các khu đô thị mới… Trong tay các nhà quản lý chuyên nghiệp, giá trị của BĐS sẽ không ngừng tăng lên. Họ sẽ luôn đảm bảo cho lợi ích của chủ nhân các căn hộ cũng như của chủ nhân các tòa nhà cho thuê trên cơ sở đảm bảo duy trì chất lượng và danh tiếng của công trình. Đây là một xu hướng mang tính phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh BĐS trên thế giới.

Tuy nhiên ở nước ta, đây là lĩnh vực mà các nhà kinh doanh trong nước vẫn còn bỏ ngỏ, ít được quan tâm đầu tư đúng mức. Hầu như các công ty kinh doanh BĐS trong nước mới chỉ tập trung quản lý những BĐS có quy mô, giá trị nhỏ của chính công ty mình đầu tư. Những khu đô thị mới, những tòa cao ốc văn phòng, những cao ốc căn hộ cao cấp đã và đang mọc lên hàng loạt ở các thành phố lớn, nhất là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh nhưng bóng dáng của các nhà quản lý BĐS Việt Nam ở đó vẫn còn rất mờ nhạt. Nói đến quản lý BĐS, người ta chỉ thấy tên tuổi của các nhà quản lý, các công ty quản lý BĐS hàng đầu trên thế giới hiện đã có mặt tại Việt Nam. Hiện tại, có 3 công ty BĐS quốc tế lớn đang thực hiện quản lý hầu hết các tòa cao ốc ở nước ta là Chesterton (Anh), Dining & Associates (Anh) và CB Richard Ellis-CBRE (Mỹ).

Đọc tiếp

TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: TRƯỜNG HỢP CON LỪA MẸ YẾU, CHA MÙ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở HỘI AN – QUẢNG NAM, CÔNG CHỨNG VIÊN ĐÃ TIẾP TAY?

HOÀI HÀ

Một người mẹ ghẻ nuôi con chồng ăn học thành tài (kiến trúc sư), được chính quyền tuyên dương, nhân dân mến phục. Nhưng, cũng chính người con đã “thành tài” ấy lại lật lọng, lừa gạt khi mẹ yếu, cha mù để chiếm đoạt tài sản. Công chứng viên đã tiếp tay cho hành vi bất hiếu, phạm pháp nay!

HY SINH CHO CON CHỒNG

Bà Trần Thị Hoa (75 tuổi) và ông Phạm Văn Hoa (83 tuổi), trú tại tổ 5, khối 1, phường Cẩm Phô, TP. Hội An mấy tháng nay ruột gan cháy bùng nỗi đau khi biết sự thật về người con Phạm Văn Đức (1977). Đức đã lừa dối để chuyển quyền sử dụng đất, vay ngân hàng và không còn khả năng trả nợ. Chỉ mấy ngày nữa cơ quan thi hành án sẽ phát mãi nhà theo luật định.

Ông Hoa nguyên là sĩ quan quân đội về hưu, nguyên là Chủ tịch UBND phường Cẩm Phô những năm 1985. Bà Hoa từng tham gia cách mạng, đoàn thể của địa phương, đang hưởng chế độ của nhà nước.
Năm 1951, hai ông bà cưới nhau, sau đó ông ra Bắc tập kết. Do hoàn cảnh đưa đẩy, năm 1971 ông Hoa lấy một người phụ nữ ở Nghệ An, sinh được 3 người con. Năm 1983, người phụ nữ ấy mất đi vì bệnh ung thư để lại 3 người con nhỏ (người con trai đầu 12 tuổi, người con gái giữa 8 tuổi và Phạm Văn Đức 6 tuổi). Cảm thương và vẫn còn yêu thương ông, bà Hoa nhận nuôi 3 người con đó rồi cả nhà chuyển về Hội An sinh sống.
Ông bị chất độc da cam nên không thể có con, bà dồn tình yêu thương các con của chồng như con đẻ của mình. Tuy gặp muôn vàn khó khăn, bà Hoa quần quật làm lụng ngày đêm, bắt các con phải học thành tài. Người con đầu giờ là giảng viên Đại học Đà Nẵng, đang du học thạc sĩ tại Australia, người con gái giữa lấy chồng, và Phạm Văn Đức là một kiến trúc sư. Gia đình ông bà từng được nhiều lần tuyên dương gia đình hiếu học, gia đình mẫu mực…
Năm 1975, bà Trần Thị Hoa mua hơn 532m2 đất tại tổ 5, khối phố 1, P. Cẩm Phô, TX. Hội An (cũ), nay là nhà số 36/101 Huỳnh Thúc Kháng, TP. Hội An (năm 2003 ông bà có bán cho bà Võ Thị Mỹ Phúc 87,14m2 đất, nay còn 445m2 đất ở và đất vườn).
Năm 2005, tuổi già sức yếu, ông Hoa lâm nhiều bệnh tật, ông điếc một bên tai, tiếp đó là viêm dây thần kinh số 6, làm ông mù 2 mắt và liệt nửa người.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở: QUẬN HOÀN KIẾM, TP HÀ NỘI CÓ “VÔ TÌNH” VỚI ĐƠN KÊU CỨU?

PV

Thời gian qua, báo Đời sống và Pháp luật liên tục nhận được đơn kêu cứu khẩn cấp của ông Nguyễn Chiến Thắng cùng 9 anh chị em khác trong gia đình ở địa chỉ số 26A, Hội Vũ, phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội về việc bị công an phường, công an quận hình sự hoá mối quan hệ dân sự, làm ngơ cho ông Dương Duy Hùng (có địa chỉ ở Hàng Bông) đến phá khoá cửa nhà đang thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của gia đình để đưa tài sản và người vào ở. Thực chất sự việc này ra sao?

Ông Nguyễn Chiến Thắng trình bày: Căn nhà số 26A, Hội Vũ, Hàng Bông theo Hợp đồng thuê nhà ở với TP. Hà Nội, số 4854, ngày 28.12.1994, đứng tên cụ Nguyễn Trọng Mưu – bố đẻ ông Thắng. Diện tích sử dụng ghi trong hợp đồng là 38,8m2, diện tích sử dụng ngoài hợp đồng là 25m2. Cụ Lê Thị Nguyễn vợ cụ Mưu mất năm 1991. Năm 2000, cụ Mưu làm đơn xin mua nhà theo Nghị định 61/CP nhưng chưa được giải quyết. Năm 2006, cụ Mưu mất. Từ khi cụ Mưu mất, ông Thắng, bà Loan… là con trai và con gái cụ Mưu đã ở căn nhà này, còn những người con khác vẫn đi lại, về thăm anh chị và thờ cúng bố mẹ, tổ tiên tại 26A Hội Vũ. Năm 1997, ông Nguyễn Cao Sự, con trai của cụ Mưu, em trai ông Thắng, bà Loan… và vợ là Nguyễn Thị Hoa, ly dị. Không biết vì lý do gì mà căn nhà số 26A Hội Vũ chủ hợp đồng thuê nhà của Nhà nước là cụ Mưu lại chuyển thành giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử đụng đất ở mang tên bà Nguyễn Thị Hoa tại giấy chứng nhận số 10105270052, do UBND TP. Hà Nội cấp ngày 13.12.2000 với thông số: diện tích đất 38,5m2; diện tích xây dựng 38,5m2; diện tích sử dụng 50, 6m2. Bà Hoa đã chuyển nhượng cho ông Dương Duy Hùng, cũng ở phố Hàng Bông căn nhà trên. ông Thắng, bà Loan là 2 người con của cụ Mưu phản đối việc ông Hùng dọn đến ở nên xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn. Theo ông Thắng và các con khác của cụ Mưu khi ông Hùng chuyển đến ở gia đình mới biết căn nhà cụ Mưu làm chủ hợp đồng thuê của Nhà nước đã bị người khác làm sổ đỏ và ngay lập tức gia đình đã làm đơn cùng các tài liệu kèm theo gửi chính quyền phường, các cơ quan chức năng trình bày sự việc trên, đề nghị xem xét giải quyết theo các quy định của pháp luật.

Đọc tiếp

TẬP ĐOÀN NÊN CHỈ LÀ DANH HIỆU?

Vneconomy – Gần đây, dư luận lại một lần nữa xôn xao về dự thảo nghị định về việc hình thành, tổ chức, hoạt động và quản lý đối với tập đoàn kinh tế (TĐKT) nhà nước. Khoan bàn luận về việc có cần thiết phải có nghị định này hay không, trong bài viết này, người viết chỉ xin bàn luận về khái niệm thế nào là TĐKT, bởi nếu không nhận rõ được khái niệm này thì dù có xây dựng bao nhiêu mô hình, ban hành bao nhiêu nghị định thì kết quả đem lại sẽ không thể cao.

Cho đến thời điểm này, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng hầu như tất cả các khái niệm về tập đoàn kinh tế đều thống nhất ở một điểm. Theo đó, tập đoàn kinh tế là một nhóm các doanh nghiệp có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.
Mặc dù thống nhất như vậy nhưng trong tư duy, hình như các nhà làm luật và các chuyên gia kinh tế vẫn đang vướng mắc ở một vấn đề. Đó là độ lớn của tập đoàn kinh tế.
Nguyên nhân của những tranh cãi có lẽ bắt nguồn từ các nghiên cứu được coi là “sách giáo khoa” trong vấn đề này. Khi nói về tập đoàn kinh tế, hầu như tất cả mọi tài liệu đều cho rằng, tập đoàn kinh tế có các đặc điểm sau: có quy mô lớn, có phạm vi hoạt động rộng; có cơ cấu sở hữu, tổ chức, cơ chế điều hành phức tạp
Cũng chính bởi những đặc điểm thường thấy này nên ai cũng nghĩ tập đoàn kinh tế là phải “lớn”. Nhưng vấn đề là ở chỗ cho đến nay không ai rõ thế nào là “lớn”. Vì thế, có vẻ người ta cứ cố lần mò thành lập cái mà bản thân họ cũng không biết rõ đó là cái gì. Đọc tiếp

%d bloggers like this: