NHỮNG DẤU HIỆU CẦN SUY NGẪM TRONG CHO VAY TIÊU DÙNG Ở KHỐI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI HIỆN NAY

KIM ANH

Từ ngày 5-12, lãi suất cơ bản sẽ giảm từ 11% xuống 10%/năm. Theo đó, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng giảm từ 12% xuống 11%/năm; lãi suất tái chiết khấu giảm từ 10% xuống 9%/năm, và lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam giảm từ 10% xuống 9%/năm. Điều này sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại hạ lãi suất cho vay hơn nữa, đồng thời các tổ chức tín dụng được phép cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với những dự án kinh doanh có hiệu quả cao.

Từ động tác đón đầu…

Dù đến ngày 5-12 lãi suất cơ bản mới giảm xuống còn 10%/năm, và lãi suất cho vay tối đa chỉ còn 15%/năm, nhưng từ ngày 1-12-2008, hàng loạt ngân hàng thương mại đã giảm mạnh lãi suất cho vay lẫn huy động vốn.

Ngày 1-12, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) mạnh tay giảm thêm 1,6% lãi suất cho vay VND, đưa lãi suất vay vốn ngắn hạn cao nhất về mức 13%/năm. Đặc biệt, mức lãi suất thấp nhất – 11,4%/năm, đã được áp dụng cho các đối tượng vay vốn kinh doanh các mặt hàng có thị trường tiêu thụ ổn định, trực tiếp sản xuất sản phẩm thiết yếu cho nền kinh tế, các đối tượng là doanh nghiệp nhỏ, và các khoản vay tài trợ xuất khẩu, thu mua lúa gạo. Lãi suất cho vay trung, dài hạn bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng trả sau cộng phí tối thiểu là 3%/năm. “Đáy” lãi suất cho vay 11,4%/năm của BIDV chỉ tồn tại đúng một ngày.

Ngày 2-12 Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã giảm mạnh lãi suất cho vay ưu đãi bằng VND từ mức 12%/năm xuống còn 11%/năm. Một lãnh đạo của Vietcombank cho biết, đợt điều chỉnh giảm lãi suất lần này, Vietcombank hướng tới mục tiêu tập trung tín dụng cho các lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp và nông thôn, xuất khẩu, nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh khả thi, có hiệu quả và có khả năng trả nợ đúng hạn.

Đọc tiếp

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HIỆN TÀI LIỆU THẬT, GIẢ TRONG GIAO DỊCH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

LS. BÙI QUANG THẠCH – VIETINBANK

Nền kinh tế – xã hội đất nước đang trong giai đoạn đổi mới, phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Sự cạnh tranh trong kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) cũng được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, trong đó có nhiều trường hợp dẫn đến vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phải đưa ra Toà án để giải quyết.

Thị trường đã tạo động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế, nhưng cũng có mặt trái của nó, thực tế đã nảy sinh nhiều loại tội phạm mới hoạt động trên nhiều lĩnh vực, thể hiện nhiều nhất là trong khâu giao dịch tiền tệ với các Ngân hàng. Chúng đã lợi dụng sơ hở của cán bộ trong khi giao dịch, dùng một số loại giấy tờ giả mạo như: Chứng minh nhân dân (CMND), hộ khẩu, hộ chiếu, sổ đỏ… lừa đảo để cầm cố, thế chấp vay tiền, lĩnh tiền của các cơ quan, DN và các Ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản.

Qua công tác điều tra cho thấy đã có một số Ngân hàng mắc phải vấn đề này. Đối tượng đã dùng CMND giả đưa vào Ngân hàng để giao dịch vay tiền, lĩnh tiền. Về phía Ngân hàng do sơ suất của một số cán bộ chỉ một chút lơ là, thiếu tinh thần trách nhiệm đã để cho đối tượng lợi dụng lừa đảo và chiếm đọat tài sản, khi phát hiện được thì đối tượng đã cao chạy xa bay. Ngân hàng thì mất vốn, cán bộ để xảy ra thì phải bồi thường vật chất, nặng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về phía Ngân hàng khi có vụ việc xảy ra phải có trách nhiệm báo với cơ quan pháp luật để điều tra truy tìm thủ phạm, mất nhiều thời gian và chi phí, ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh và uy tín của đơn vị, nội bộ mâu thuẫn nghi kị lẫn nhau.

Xuất phát từ thực tế trên và yêu cầu công tác phải đảm bảo tuyệt đối an toàn về tài sản của Nhà nước, của cơ quan và của chính bản thân người Giao dịch viên (GDV), Kiểm soát viên, bài viết này cung cấp một số kiến thức cơ bản về nhận biết thông thường đối với một số loại giấy tờ và chữ ký thật, giả khi thực hiện giao dịch với khách hàng với mục đích nhằm giới thiệu cho các GDV nhận biết về đặc điểm, hình dáng, kích thước, mầu sắc, dấu vết của một số loại giấy tờ như CMND, Hộ chiếu, tài liệu thật/giả và giám định chữ ký phục vụ cho công tác chuyên môn khi giao dịch với khách hàng. Từ đó giúp cho GDV có được kiến thức cơ bản phát hiện được các hành vi, thủ đoạn của tội phạm dùng giấy tờ giả để giao dịch, thế chấp, cầm cố nhằm chiếm đoạt tiền và tài sản của các cơ quan tổ chức, cá nhân và đưa ra các biện pháp phòng chống ngăn chặn.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP SỞ HỮU TÀI SẢN GIỮA CHA MẸ VÀ CON: KHỐN KHỔ VÌ CON!

THANH TÙNG

Bà N. đăm đăm nhìn về ngôi nhà đã bị vợ chồng con trai chiếm, nước mắt ràn rụa trên đôi gò má xương xẩu. Bà khóc vì đạo lý ở đời đảo lộn, tình máu mủ bị lấp vùi chỉ vì lòng tham… Bà N. từng là chủ cửa hàng bán xe máy, xe đạp ở TP Mỹ Tho (Tiền Giang), có một gia đình khá giả, êm ấm. Mọi việc chỉ bắt đầu từ năm 2004 khi bà phải lên TP.HCM điều trị căn bệnh tim quái ác dài ngày. Đi chữa bệnh, bà giao lại việc kinh doanh cửa hàng cho vợ chồng con trai đầu.

Lừa cả mẹ mình

Việc buôn bán thường xuyên cần đến vốn nên người con đầu đã đề nghị bà chuyển quyền sở hữu nhà, sang tên cửa hàng để tiện thế chấp vay tiền ngân hàng làm ăn. Nghĩ chỉ cho con đứng tên tạm, bà không một chút mảy may nghi ngờ. Trước khi viết giấy tặng cho để hợp thức hóa, bà còn dặn: “Sau này má mất đi thì căn nhà là đồng sở hữu của ba anh em con, không đứa nào được bán, để làm nhà thờ gia tộc nghe chưa”.

Vợ chồng người con đầu tỏ ra ngoan ngoãn vâng lời. Nào ngờ ngay sau khi sang tên, họ đã thế chấp nhà vay tiền tiêu xài riêng. Năm 2007, sợ ngân hàng phát mại nhà, bà N. phải đi vay tiền bên ngoài trả nợ để chuộc lại giấy tờ nhà rồi nhờ người cất giữ. Bị quản lý giấy tờ, con dâu bắt đầu xúi chồng chửi rủa, đay nghiến, thậm chí đánh bà mỗi khi trong nhà xảy ra xung đột. Cắn răng chịu mãi không thấu, bà N. phải tố giác ra chính quyền. Trưởng khu phố đã rất nhiều lần mời vợ chồng người con đến thuyết phục, khuyên giải. Lần nào họ cũng cam kết, cũng hứa không ngược đãi bà nữa nhưng sau đó họ lại tái phạm! Đã hơn một lần công an phường phải xử phạt hành chính vợ chồng người con về hành vi ngược đãi mẹ và đánh người gây thương tích, gây rối trật tự công cộng.

Nỗi đau nối tiếp nỗi đau

Sống chung một mái nhà, những bữa cơm của bà N. chan đầy nước mắt. Có lần bà vừa đưa chén cơm lên miệng, con dâu đã ụp ngay nồi cơm xuống đất. Bà cự nự thì đứa con trai bất hiếu bênh vợ tấn bà vào tường đánh tới tấp khiến bà phải vào bệnh viện.

Đọc tiếp

TÌM HƯỚNG GIẢI QUYẾT CHO VIỆC CẢI CÁCH GIÁO DỤC TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

GS. NGUYỄN ĐĂNG HƯNG – Đại học Liège, Bỉ

Tóm tắt

Trong bài này, tôi sẽ đề cập những bước đột phá trong việc cải cách hệ thống giáo dục Việt Nam bao gồm ba điểm sau đây,

1. Đổi mới tư duy về giáo dục…

2. Vì sự chệch hướng kéo dài hàng mấy thập kỷ, cần có quyết tâm, thời gian và lộ trình trong việc cải tổ, tuy nhiên có những việc cấp bách cần làm ngay…

3. Đâu là hướng gii quyết sau khi chấp nhận cơ chế thị trường cho nền giáo dục ?

Đây là những ý kiến, những kinh nghiệm cá nhân đã được tích lủy sau 15 năm lăn lộn với Giáo dục và Đào tạo tại Việt Nam.

1. Nội dung cần thiết của đổi mới tư duy

1.1 Lãnh đạo và qun lý tốt phải đồng nghĩa với phục vụ tốt.

Đổi mới tư duy theo tôi trước hết là đoạn tuyệt với lề lối tập trung quan liêu, nói nôm na là thói quen ôm đồm, bao biện, cái gì cũng muốn nắm, cái gì cũng muốn quản lý mà không có khả năng, không có tài lực, không có phương pháp, gây trì trệ, nhũng nhiễu cho nền giáo dục quốc dân… Lãnh đạo và quản lý tốt phải đồng nghĩa với phục vụ tốt. Phục vụ muốn có hiệu quả thì phải mở cơ chế cho thật thoáng để tăng cường khả năng phục vụ. Đây là nguyên tắc làm việc cũa các nước tiên tiến có trình độ phát triển cao.

1.2 Cần nhanh chóng trao quyền tự quản cho các trường đại học

Chẳng hạn, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cần nhanh chóng trao quyền tự quản cho các trường đại học, bắt đầu bằng những trường trọng điểm, những trường lớn. Quyền tự quản này bao gồm quyền tuyển sinh, cấp bằng, quản lý và bổ nhiệm nhân sự, tổ chức và kế hoạch việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học… Bộ chỉ dừng lại ở quản lý khung : ngân sách (phần nhà nuớc rót về trường như thế dĩ nhiên gián tiếp chi phối việc bổ nhiệm nhân sự), học trình quốc gia (bất cứ trường nào cũng phải tuân thủ chương trình học do bộ đề ra), chế độ (mức lương tối thiểu, chức danh, học hàm, tài trợ những hướng phát triển trọng điểm, cho bổng học sinh nghèo, hỗ trợ học sinh vùng sâu vùng xa…), thanh tra giám sát, hiệp thương hợp tác quốc tế trên bình diện vĩ mô, vân vân…

Đọc tiếp

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: TÒA ÁN TUYÊN LỐ, THI HÀNH ÁN BÓ TAY

THỤY CHÂU

Án tòa cho phép nguyên đơn hưởng hơn 3.300 m2 đất trong khi diện tích thực tế chỉ còn khoảng 2.000 m2. Thi hành án dân sự TP.HCM vừa gửi công văn đề nghị các cơ quan thẩm quyền xem xét lại một bản án của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM theo trình tự giám đốc thẩm. Tháng 5-2008, khi xử phúc thẩm vụ tranh chấp nhà đất, tòa này tuyên án không phù hợp thực tế khiến việc thi hành án bị tắc tỵ.

Chia đi chia lại khối di sản

Ông S. và ông Q. tranh chấp căn nhà và hơn 3.300 m2 đất ở quận Tân Phú. Đó là di sản do cha mẹ họ chết để lại mà không có di chúc. Năm 1994, anh em họ đã ký tờ cam kết phân chia di sản nhưng không có xác nhận của chính quyền địa phương. Theo đó, ông S. được hưởng toàn bộ khối di sản trên.

Năm 2001, ông Q. tự dọn về ở trên phần nhà đất mà ông S. được chia. Một năm sau, họ lại phân chia di sản dưới sự chứng kiến của UBND phường Tây Thạnh. Lần này, phần đất ông S. được quyền sử dụng hụt đi nhiều so với ban đầu. Vậy là ông S. nộp đơn khiếu nại cách phân chia mới. Đến tháng 11-2006, ông S. nộp đơn kiện ông Q. ra tòa để yêu cầu ông này tôn trọng cam kết đã lập năm 1994.

Hẳn nhiên là ông Q. không chịu. Theo ông Q., anh em họ đã thỏa thuận phân chia lại di sản vào năm 2002. Phần tài sản ông đang chiếm giữ là tài sản mà ông mới được chia lại. Do vậy, ông S. không có quyền yêu cầu ông ra khỏi khu đất đó. Theo lập luận của ông Q., biên bản lập năm 2002 thể hiện ý chí sau cùng của các đồng thừa kế, lại có xác nhận của chính quyền địa phương nên đã vô hiệu tờ thỏa thuận lập năm 1994.

Thỏa thuận ban đầu có hiệu lực

Trước khi phát sinh tranh chấp này, hai ông từng kéo nhau ra tòa trong một vụ án khác. Tờ thỏa thuận phân chia di sản năm 1994 cũng đã được đem ra bàn luận trong vụ án. Lần đó, cấp phúc thẩm thừa nhận tính pháp lý của tờ thỏa thuận năm 1994 và bác bỏ thỏa thuận năm 2002.

Đọc tiếp

CHẾ ĐỘ PHÂN CHỦNG (JIM CROW) TRONG LỊCH SỬ HOA KỲ

image GS TS. DAVID PILGRIM (Ferris State University) – TRẦN NGỌC CỰ  dịch                  

Việc đắc cử của Barack Obama, một người da màu, vào chức vụ Tổng thống của một nước giàu mạnh nhất thế giới có ý nghĩa lịch sử cực kì to lớn. Đây là một “quantum leap”, một bước phát triển không thể đảo ngược, có sức đúc bê tông những chiến thắng của cuộc đấu tranh can đảm và ngoan cường (brave and resilient) của người da đen kéo dài trên 150 năm. Một cuộc đấu tranh mà thành quả của nó mọi sắc dân thiểu số khác đang chung hưởng trên đất nước Hoa Kỳ: đó là những đạo luật và cơ chế dân quyền Mỹ, nhằm chống lại nhiều hình thức phân biệt đối xử trong xã hội, chủ yếu là chống kì thị chủng tộc, điển hình là chế độ phân chủng Jim Crow.[1]

Jim Crow là gì?

Jim Crow là tên gọi của một chế độ giai cấp đặt cơ sở trên màu da, một chế độ được áp dụng chủ yếu, nhưng không riêng gì, tại các bang miền Nam và các bang cùng biên giới với miền Nam [xét theo địa lí của thời Nội chiến Mỹ], trong giai đoạn từ năm 1877 đến giữa thập niên 60 của thế kỉ trước. Nội hàm của Jim Crow không chỉ nằm trong một loạt luật lệ nghiêm khắc nhắm vào người da đen. Mà đó là một lối sống. Dưới chế độ Jim Crow, người Mỹ gốc châu Phi bị đưa xuống hàng công dân thứ cấp. Jim Crow tiêu biểu cho việc hợp thức hoá chế độ phân chủng chống lại người da đen. Để củng cố chế độ Jim Crow, thậm chí nhiều giáo sĩ và nhiều nhà thần học Ki-tô-giáo cũng rao giảng rằng người da trắng là dân được Chúa chọn (Chosen People), còn người da đen thì bị rủa sả phải làm thân nô lệ, và Thiên Chúa hậu thuẫn cho chế độ phân chủng. Các nhà nghiên cứu về sọ não, về tông giống (cranilogoists, phrenologists, eugenicists), và cả những nhà xã hội học theo thuyết tiến hoá Darwin, đủ mọi trình độ, hùa nhau yểm trợ cái tín lí cho rằng người da đen bẩm sinh là thấp kém hơn người da trắng về mặt tri thức và văn hóa. Những chính trị gia chủ trương phân chủng cũng tung ra những bài diễn văn hùng hồn về mối hoạ to lớn của việc cho người da đen hội nhập vào dòng chính của xã hội Hoa kì: đó là sự pha giống với người da trắng. Các nhà báo cũng thường gọi người da đen bằng các từ miệt thị như niggers, coons, hay darkies, và tệ hại hơn nữa, những bài viết của họ đã làm gia tăng những định kiến tiêu cực về người da đen. Ngay cả trò chơi trẻ em cũng miêu tả dân da đen như một giống người hạ đẳng. Tất cả các định chế xã hội quan trọng đều phản ánh và hỗ trợ việc áp chế người da đen.

Đọc tiếp

15 ƯU ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN TRONG DẠY HỌC

image TRƯƠNG VỸ QUYỀN – TRẦN MỸ PHƯƠNG

– Thảo luận có thể giúp người học khai thác được nhiều khía cạnh của một vấn đề.

– Thảo luận có thể giúp tăng cường khả năng chịu đựng và sự quan tâm của người học đến các vấn đề phức tạp.

– Thảo luận có thể giúp người học chấp nhận và đào sâu thêm những giả thiết của mình.

– Thảo luận khuyến khích người học biết cách lắng nghe một cách kiên nhẫn và lịch sư.

– Thảo luận có thể giúp người học rút ra được những kiến giải mới từ các ý kiến khác nhau.

– Thảo luận tăng cường tính linh hoạt tư duy của người học.

– Thảo luận khiến người học chú tâm hơn đến các đề tài đang được bàn thảo.

– Thảo luận giúp cho những ý tưởng và sự thể nghiệm của người học được tôn trọng.

– Thảo luận giúp cho người học hiểu rõ được những đặc điểm của quá trình thảo luận dân chủ.

– Thảo luận tạo điều kiện cho người học trở thành người tham gia sáng tạo tri thức.

– Thảo luận giúp người học phát triển khả năng trao đổi suy nghĩ và quan điểm một cách rõ ràng.

– Thảo luận giúp người học hình thành thói quen tương tác trong học tập.

– Thảo luận giúp cho người học trở nên cởi mở và dễ thấu hiểu người khác hơn.

– Thảo luận có thể giúp người học phát triển năng lực phân tích và tổng hợp.

– Thảo luận có thể làm biến chuyển tư duy của người học.

Đọc tiếp

%d bloggers like this: