ĐỂ HIỂU ĐÚNG VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP

NGUYỄN HỮU LONG – Công ty Tư vấn BDSC

TBKTSG  – Thời gian gần đây, thuật ngữ “Văn hóa doanh nghiệp” rất thường được sử dụng và phổ biến trong giới doanh nhân và các nhà quản lý. Các doanh nghiệp bắt đầu chú trọng đến việc xây dựng văn hóa cho mình.

Tuy nhiên, việc hiểu đúng thuật ngữ này là hết sức cần thiết trong bối cảnh có quá nhiều những lớp chiêu sinh giảng dạy về đề tài này, nhưng mỗi nơi, mỗi thầy lại giảng một kiểu, gây bối rối cho người học.

Có người cho rằng: “Văn hóa tổ chức là những nét đặc trưng cơ bản để phân biệt tổ chức này với tổ chức khác”, từ đó kết luận “Văn hóa doanh nghiệp là những nét đặc trưng cơ bản để phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác”.

Hai cụm từ “đặc trưng” và “phân biệt” được nhấn mạnh và lặp đi lặp lại nhiều lần trong các lớp học về văn hóa doanh nghiệp, làm học viên nhớ và “thấm” rất kỹ. Kết quả là các doanh nghiệp có người theo học luôn tìm mọi cách để làm cho doanh nghiệp mình có những nét văn hóa “khác người”.

Nỗ lực này đôi khi đem lại kết quả tệ hại vì doanh nghiệp bỗng trở thành một tổ chức lạc lõng, không giống ai, thậm chí có khi còn rất phản cảm vì những “nét văn hóa” rất kỳ cục, gây khó chịu cho cả những người trong cuộc.

Ví dụ, có doanh nghiệp bắt buộc tất cả nhân viên, kể cả quản lý cấp cao, phải đứng dậy, cúi đầu chào khi tổng giám đốc bước vào, và chỉ được ngồi sau khi tổng giám đốc cho phép.

Đọc tiếp

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC XÂY DỰNG VÀ BẤT ĐỘNG SẢN – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

NGUYỄN THANH NGA*  & A -LẾC-XƠ UA-REN**

Kể từ năm 2007, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam có mức tăng trưởng cao hơn hẳn so với các năm trước, đạt trên 57 tỉ USD (trong 9 tháng đầu năm 2008). So với các năm trước, vốn FDI năm 2008 có hai đặc điểm khác biệt: về quy mô, có rất nhiều dự án đăng ký trên một tỉ USD; về lĩnh vực đầu tư, FDI tập trung nhiều vào lĩnh vực xây dựng và phát triển bất động sản. Vậy thực trạng và những vấn đề gì đang đặt ra cho nền kinh tế nước ta?

Theo số liệu thống kê, các dự án lớn hàng tỉ USD cũng đã tập trung vào các lĩnh vực xây dựng và bất động sản bên cạnh lĩnh vực lọc dầu và khu liên hợp thép. Chỉ riêng 7 tháng đầu năm 2008, trong số 8 dự án trên một tỉ USD, chiếm ba phần tư tổng vốn đăng ký, thì 6 dự án về xây dựng và phát triển bất động sản. Điều không thể tránh khỏi là những dự án công nghiệp mới khác sẽ bắt đầu bằng việc xây dựng kết cấu hạ tầng. Trong trung hạn, những dự án FDI sẽ biến Việt Nam thành một “công trường” sôi động.

Ở Việt Nam nhu cầu đối với bất động sản vẫn còn cao hơn nhiều so với mức cung. Tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ sử dụng các loại bất động sản đạt gần như 100%.

Đây là điều đáng mừng vì FDI tăng trong lĩnh vực xây dựng và phát triển bất động sản là phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước và với chính sách khuyến khích FDI của Chính phủ. Hiện nay, nhu cầu đối với các dự án bất động sản như nhà ở, khách sạn, văn phòng đều cao hơn nhiều so với mức cung. Mặc dù vào năm 2007, giá bán và thuê tất cả các loại bất động sản loại này và các khu đô thị tăng ít nhất là gấp đôi tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhưng tỷ lệ sử dụng chúng vẫn đạt gần như 100%. Theo Chiến lược phát triển của Việt Nam, diện tích khu vực thành thị sẽ tăng từ 105.000 ha hiện tại lên 460.000 ha năm 2020 và tốc độ đô thị hóa sẽ tăng từ 28% hiện nay lên khoảng 45% vào năm 2025; dân số thành thị khi đó sẽ đạt 46 triệu người. Việt Nam sẽ phải xây dựng 35 triệu m2 nhà ở thành thị để tăng mức diện tích nhà ở lên 20 m2/người vào năm 2020. Nền kinh tế mở cửa hơn theo cam kết WTO và phát triển hơn theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng sẽ đẩy nhu cầu đối với các loại hình bất động sản tăng cao trong thời gian tới.

Đọc tiếp

VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VÀ CẤP LÝ LỊCH TƯ PHÁP CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỐI VỚI DỰ THẢO LUẬT LÝ LỊCH TƯ PHÁP

ĐẶNG TRUNG HÀ – Vụ Pháp luật quốc tế – Bộ Tư pháp

Lý lịch tư pháp theo pháp luật Việt Nam được hiểu là “bộ nhớ” về các án tính của những cá nhân đã từng can án hình sự. Dưới góc độ khoa học pháp lý, lý lịch tư pháp được định nghĩa là những dữ liệu về tình trạng pháp lý của một cá nhân, ghi nhận là những thông tin về các chế tài, hình phạt, biện pháp pháp lý đã áp dụng đối với cá nhân đó.

Khi tìm hiểu về vấn đề này trong pháp luật một số nước, chúng ta có thể thấy có hai loại thuật ngữ dùng để chỉ khái niệm này như: criminal record hay criminal history record (lý lịch tư pháp hình sự); judicial record hay court record (dùng để chỉ những dữ liệu về các bản án, quyết định của ngành tư pháp, toà án trong đó bao gồm cả các án hình sự và phi hình sự). Để tìm hiểu phương pháp quản lý và cấp lý lịch tư pháp của một số nước từ đó góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam, tham luận bước đầu xin được đề cập đến pháp luật của một số nước, trong đó có chú ý tìm hiểu 02 nước thuộc hệ thống pháp luật Common law(Hoa Kỳ và Vương quốc  Liên hiệp Anh) và 01 nước thuộc hệ thống pháp luật Civil law (Cộng hoà Pháp). Do các thông tin và tài liệu tác giả chủ yếu thu thập được thông qua các website, cơ sở dữ liệu pháp luật, một số sách, tạp chí nước ngoài và được tập hợp lại trên dựa vào chủ quan của tác giả, nên chắc chắn không tránh khỏi sai sót. Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ phía các chuyên gia để việc nghiên cứu đạt kết quả tốt hơn.

I. Pháp luật một số nước về lý lịch tư pháp

1. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

            Vấn đề quản lý hệ thống dữ liệu và phạm vi cung cấp lý lịch tư pháp cũng đang là vấn đề hiện gây tranh cãi tại Hoa Kỳ, đặc biệt là trong quan hệ với vấn đề cấm phân biệt đối xử trong tuyển dụng lao động. Theo luật về các quyền dân sự của Liên bang cũng như các bang tại Hoa Kỳ quy định cấm mọi hình thức phân biệt đối xử đối với những người đã bị kết án hình sự và đã chấp hành hình phạt. Từ quy định của luật liên bang, hầu hết các bang đều ban hành các đạo luật nhằm cụ thể hoá quy định về cấm phân biệt đối xử này trong đó hạn chế việc các cá nhân, tổ chức kiểm tra lý lịch tư pháp của một người. Hiện nay, nhất là trong quá trình tuyển chọn lao động làm việc trong các ngành dịch vụ đặc thù, nhu cầu kiểm tra lý lịch tư pháp ngày càng gia tăng và những tổ chức tuyển dụng lao động đã có những kiến nghị với Quốc hội liên bang cũng như Quốc hội của các bang mở rộng hơn nữa quyền của các tổ chức này trong việc kiểm tra lý lịch tư pháp của người lao động.

Đọc tiếp

FDI TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM GIA NHẬP WTO?

TS. NGUYỄN VĂN HOA – Bộ Công thương

I- Đặt vấn đề:
Nếu Việt Nam gia nhập WTO thì toàn bộ nền kinh tế sẽ có những thay đổi cực kỳ sâu sắc. Khi ấy đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) sẽ có vai trò cực kỳ to lớn tác động mạnh mẽ đến sự tăng trưởng kinh tế xã hội Việt Nam. Hiện nay còn có nhiều cách nghĩ và hiểu khác nhau về vấn đề này .

II- Vai trò FDI ở Việt Nam ?
FDI được biết ở Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến nay. Nó được hiểu theo nhiều góc nhìn khác nhau.

Theo Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) thì FDI : “Đầu tư trực tiếp nhằm đạt được quyền lợi lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác với nền kinh tế nhà đầu tư. Định nghĩa này chỉ “ nghiêng” về quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài, không quan tâm đến lợi ích của nước chủ nhà tiếp nhận đầu tư.

Còn theo cách hiểu theo Luật đầu tư của Việt Nam thì FDI – Đầu tư nước ngoài(ĐTNN) là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp nhận”.

FDI ở Việt Nam phải đáp ứng các mục đích sau đây:

-Thực hiện các chương trình kinh tế lớn, sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế hàng nhập khẩu;
-Sử dụng kỹ thuật cao, công nhân lành nghề, đầu tư theo chiều sâu để khai thác, tận dụng các khả năng và nâng cao công suất của các cơ sở kinh tế hiện có;
-Sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu, và tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở Việt Nam;
-Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng;

Đọc tiếp

%d bloggers like this: