BÌNH LUẬN QUYẾT ĐỊNH KHÔNG CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

THS.  ĐỖ HẢI HÀ – Đại học Luật TPHCM

Trong bài viết này, tác giả sẽ bình luận Quyết định không công nhận quyết định của Trọng tài nước ngoài của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (“Tòa Phúc thẩm”) số 02/PTDS ngày 21/01/2003 (“Quyết định 02”) trong vụ Công ty Tyco Services Singapore Ltd yêu cầu công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài Úc (“vụ Tyco”).

NỘI DUNG VÀ QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN TRONG VỤ TYCO

Trong vụ việc này, công ty Tyco Services Singapore Ltd (“Tyco”) đã có đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành hai quyết định của Trọng tài bang Queensland của Úc (bên phải thi hành quyết định là Công ty Leighton Contractors VN Ltd (“Leighton”)). Tuy nhiên, Tòa Phúc thẩm đã từ chối công nhận hai quyết định này dựa trên những lập luận sau:
“Việc cho thi hành tại Việt Nam hai phán quyết của trọng tài bang Queensland của Cộng hòa Úc hay không phải căn cứ vào Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài là chỉ xét và áp dụng đối với tranh chấp phát sinh từ quan hệ thương mại.
Xét thoả thuận liên danh Thiess-Tyco ký kết ngày 17/10/1995 lúc này Nhà nước Việt Nam chưa có Bộ luật thương mại song năm 1992, 1995, 1996 Chính phủ Việt Nam đã có các Nghị định số 114/HĐBT ngày 7/4/1992, số 02/CP ngày 5/1/1995 và số 01/CP ngày 3/1/1996 thì hành vi xây dựng trong tất cả các nghị định nói trên không xác định là hành vi thương mại và điều 45 Luật thương mại sau này cũng không quy định “xây dựng” là một hành vi thương mại.

Đọc tiếp

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LUẬT TRỌNG TÀI

GS-TSKH Đào Trí Úc – Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Luật gia Việt Nam, Ủy viên thường trực Ban soạn thảo Luật Trọng tài thương mại, Tổ trưởng Tổ biên tập Luật Trọng tài thương mại

1. Bối cảnh của việc xây dựng, đổi mới pháp luật về trọng tài

Bối cảnh kinh tế-xã hội, quốc tế

Hơn lúc nào hết, tranh chấp và giải quyết tranh chấp đang là vấn đề “nổi cộm” của nền kinh tế thế giới hiện nay. Có thể khẳng định như vậy bởi lẽ quá trình hội nhập quốc tế hiện nay đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, trong điều kiện đó mỗi quốc gia không thể đứng ngoài, tự tách mình khỏi quá trình hội nhập quốc tế. Đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia, sản phẩm làm ra của mỗi tập đoàn không còn bó buộc trong một phạm vi và lãnh thổ nhất định, mà được gắn kết với nền kinh tế toàn cầu. Quá trình toàn cầu hoá và khu vực hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ cùng với đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng, buộc các nhà sản xuất, kinh doanh không những nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng phục vụ, mà còn mở rộng hợp đồng với rất nhiều đối tác. Quá trình liên doanh, liên kết, mở rộng hợp đồng, sự phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ tư tất yếu sẽ nảy sinh những vấn đề tranh chấp. Sự ra đời của trọng tài như là một hệ quả tất yếu trong việc đa dạng hoá các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Pháp luật hoàn toàn cho phép các nhà kinh doanh, các cá nhân, tổ chức có quyền được lựa chọn mô hình mà mình yêu thích để giải quyết những tranh chấp phát sinh. Chính điều này đã tạo cơ sở cho sự ra đời của các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ADR), mà phương thức có vị trí quan trọng nhất trong số đó là giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Do đó, ở các nước trên thế giới, ngoài toà án, đều có một cơ quan tài phán khác là trọng tài.

Đọc tiếp

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

THS. VƯƠNG TỊNH MẠCH

Lời tựa: Tiếp theo bài “Giới thiệu về cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO”, chúng tôi xin giới thiệu chi tiết về thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO.

Các thuật ngữ viết tắt trong bài:

– WTO: World Trade Organizaton – Tổ chức Thương mại Thế giới

– DSB: Dispute Settle Body – Cơ quan giải quyết tranh chấp

– DSU: Dispute Settlement Understanding – Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp.

– Tên chính thức của DSU là Understanding on rules and procedures governing the settlement of disputes annex 2 of the WTO Agreement – Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp, phụ lục 2 của Hiệp định thành lập WTO.

Khi một khiếu kiện đã được đệ trình lên WTO, có hai cách để giải quyết tranh chấp: (i) các bên tìm ra một giải pháp hòa giải thống nhất với nhau, đặc biệt trong quá trình tham vấn song phương và (ii) thông qua phán xử bao gồm cả quá trình thực thi các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm đã được DSB thông qua. Quá trình giải quyết tranh chấp của WTO có thể chia làm 3 giai đoạn như sau: tham vấn, xét xử và thực thi pháp quyết. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ trình bày các giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp của WTO.

Đọc tiếp

TỜ TRÌNH CỦA BỘ VĂN HÓA – THÔNG TIN VÀ DU LỊCH VỀ DỰ ÁN LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Kính gửi: Thủ tướng Chính Phủ

Thực hiện Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2006 của Quốc hội về chương trình xây dựng, pháp luật của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII và năm 2008; Quyết định số 25/QĐ- TTg ngày 97.01.2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công cơ quan chủ trí soạn thoả dự án luật, pháp lệnh, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch với vai trò là cơ quan chủ trì đã phối hợp với các cơ quan hữu quan tích cực triển khai Dự án Luật sửa đổi, bộ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Thay mặt ban soạn thảo, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch kính trình Chính phủ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ như sau:

I. Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ:

1. Việc Quốc hội ban hành Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã đánh dấu bước phát triển mới, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trogn việc thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan tại quốc gia và hội nhập quốc tế.

Để cụ thể hoá và hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ các văn bản pháp luật cũng đã đựơc ban hành kịp thời với 05 Nghị định của Chính phủ, 01 chỉ thị cuả Thủ tướng Chính phủ, 04 Thông tư cùng 04 Quyết định của các Bộ văn hoá, Thể thoa và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ…..

Hệ thống sở hữu trí tuệ hiện hành đã tạo hành lang pháp lý an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo và bảo hộ thành quả của lao động sáng tạo. Về cơ bản nó đã kế thừa các giá trị của các văn bản pháp luật được thể nghiệm trong thực tiễn, bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các chủ thể (người sáng tạo, nhà sử dụng, công chứng hưởng thụ), bảo vệ lợi ích quốc gia, tương thích với luật pháp quốc tế, thể hiện sự minh bạch, khả thi. Vì vậy, nó đã thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại quốc gia, góp phần quan trọng kết thúc quá trình đàm phàn để việt nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đọc tiếp

MÊ HỒN TRẬN "LÀM ĂN" CỦA CÁC NHÀ XUẤT BẢN

TUẤN HẢI

Giữa giới phát hành không có nhà sách nào đứng một mình. Mà đa phần là sách đổi sách chứ không lưu thông bằng tiền mặt. Việc quay vòng bằng tiền mặt là một bài toán hóc búa.

LTS: Đây là những ý kiến và trải nghiệm riêng của ông Nguyễn Dược (từng là một đầu nậu sách), không phải quan điểm của VietNamNet.

Gian lận cả ở khâu phát hành

Tất cả đều chia theo số trang cả. Tôi lấy ví dụ như một cuốn sách 500 trang mà in 1000 cuốn thì có phải là 500000 trang. Giá bán đều tính theo trang hết. Ví dụ sách khổ 13×19 thì cứ trung bình giá từ 90 – 100 đ /1 trang sách. Tất cả có thể quy về như thế, một cuốn sách 500tr thì 50 nghìn. Có những thứ này hoàn toàn phụ thuộc vào số lượng: Thứ nhất là kẽm in, bởi vì 1 bản kẽm có thể in được vạn trang, anh in 1000 trang thì 9000 trang còn lại vứt bỏ.

Bây giờ ta cứ coi như một tờ kẽm có giá 50 nghìn thì in 1 vạn trang thì giá nó rất nhỏ còn in 1000 thì giá đội lên gấp 10 lần nên anh làm sách nào cũng muốn in nối bản cả. Vĩ rõ ràng những lần sau tôi in, tôi chỉ phải trả giấy, mực và công in.

Nếu anh in số lượng càng nhiều thì tất cả những thứ đó giá thành sẽ thấp hơn rất nhiều. Khi anh in với số lượng lớn, hao phí cũng sẽ rất nhỏ. Nếu tôi là nhà in, anh in với số lượng lớn thì tôi sẽ lấy anh giá rất khác so với anh in số lượng nhỏ. Khâu đóng xén cũng thế, số lượng nhiều thì giá thành cũng giảm rất nhiều. Cái gì cũng chia cho số lượng hết, một cuốn sách anh in càng nhiều thì chi phí cho mỗi cuốn càng giảm nhưng giá bìa bán ra cho thì vẫn nguyên vẹn, không giảm chút nào.

Đọc tiếp

TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU TỚI DỰ TRỮ NGOẠI HỐI CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA

image HÀ TƯƠI

Theo số liệu công bố trên trang web chính thức của IMF, Dự trữ ngoại hối tại thời điểm cuối tháng 10 của hầu hết các nước đã công bố số liệu đều sụt giảm mạnh so với tháng 9. Cụ thể trong số 28 nước đã công bố số liệu thì có 27 nước Dự trữ ngoại hối sụt giảm trừ Estonia có mức Dự trữ ngoại hối tăng khoảng 600 triệu USD từ 3,6 tỷ USD vào cuối tháng 9 tới 4,2 tỷ USD vào cuối tháng 10. Đặc biệt, 3 nước trong số 5 nước có quy mô Dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới theo thứ tự là: Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc đều có mức sụt giảm mạnh mẽ không kể Trung Quốc là nước không công bố chính thức số liệu Dự trữ ngoại hối trên website của IMF và Ấn Độ do chưa công bố số liệu Dự trữ ngoại hối tháng 10. Đứng đầu mức sụt giảm Dự trữ ngoại hối là Nga với mức sụt giảm là 71,5 tỷ USD từ 556 tỷ USD xuống chỉ còn 484,5 tỷ USD, sau đó tới Hàn Quốc giảm 27,4 tỷ USD từ 239, 7 tỷ USD xuống 212,3 tỷ USD; Đức giảm 18,6 tỷ USD từ 142,9 tỷ USD xuống 124,3 tỷ USD và Nhật giảm 18,2 tỷ USD từ 995,9 tỷ USD xuống 977,7 tỷ USD.

Có hai nguyên nhân chính khiến Dự trữ ngoại hối của các nước giảm mạnh trong tháng 10. Nguyên nhân thứ nhất là việc Ngân hàng trung ương các nước bán ròng ngoại tệ trong đó chủ yếu là đồng đô la Mỹ để can thiệp thị trường nhằm giữ giá đồng nội tệ. Nguyên nhân thứ hai là do tỷ giá của một số ngoại tệ mạnh trong rổ ngoại tệ thuộc Dự trữ ngoại hối biến động khiến mức Dự trữ ngoại hối quy ra đô la Mỹ sụt giảm.

Đọc tiếp

%d bloggers like this: