HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI

image Hợp đồng tương lai là một hợp đồng được tiêu chuẩn hoá, được giao dịch trên thị trường giao dịch hợp đồng tương lai, để mua hay bán một số loại hàng hoá nhất định, ở một mức giá nhất định, vào một ngày xác định trong tương lai. Ngày trong tương lai đó gọi là ngày giao hàng, hay ngày thanh toán cuối cùng. Giá được xác định ngay tại thời điểm kí hợp đồng được gọi là giá tương lai (futures price), còn giá của hàng hoá đó vào ngày giao hàng là giá quyết toán. Thông thường, càng dần đến ngày giao hàng thì giá quyết toán sẽ hội tụ dần về giá tương lai.

Đến ngày giao hàng, hàng sẽ được chuyển từ người bán cho người mua nếu đó là hợp đồng giao hàng, hoặc tiền sẽ được chuyển từ bên lỗ sang bên lãi nếu đó là kiểu hợp đồng bù trừ tiền. Để thoát khỏi hợp đồng trước khi đáo hạn, các bên tham gia hợp đồng có thể chuyển nhượng hợp đồng cho một bên khác theo giá thị trường, kết thúc một hợp đồng tương lai và các nghĩa vụ kèm theo của nó.

Ví dụ: công ty A bán cho công ty B 100,000 thùng dầu giao tháng 5/2007 theo một hợp đồng tương lai với giá $65/thùng. Đến tháng 5/2007, giá dầu lên $85/thùng thì hoặc là A sẽ phải giao cho B 100,000 thùng dầu với giá $65 hoặc A sẽ không phải giao dầu mà thanh toán cho B 20×100,000= 2tr USD.

Hợp đồng tương lai là một công cụ phái sinh được mua bán ở các sàn giao dịch tập trung. Trung tâm xử lý thanh toán(clearinghouse) trong sàn giao dịch đóng vai trò như là một bên trong tất cả các hợp đồng, nó đặt ra những yêu cầu nhất định về kí quĩ, bảo lãnh thực hiện hợp đồng đối với những người tham gia giao dịch…

Xét từ định nghĩa thì hợp đồng tương lai chính là một loại hợp đồng kì hạn (forward contract), song giữa hai loại hợp đồng này có một số điểm khác biệt chủ yếu sau:

  • Hợp đồng tương lai luôn được giao dịch trong các sàn giao dịch, trong khi đó các hợp đồng kì hạn luôn được giao dịch ở thị trường phi tập trung (OTC), hay chỉ đơn giản là một hợp đồng kí giữa hai bên.

  • Hợp đồng tương lai là hợp đồng được tiêu chuẩn hoá cao, hàng hoá được phân theo lô, đánh số, kí mã hiệu đầy đủ. Ngược lại hợp đồng kì hạn là hợp đồng có tính riêng biệt, mỗi hợp đồng mỗi khác.

  • Hợp đồng tương lai ít rủi ro hơn khi mà nó được giao dịch thông qua các sàn giao dịch, bên còn lại của hợp đồng là clearinghouse, luôn đảm bảo uy tín. Ngược lại trong hợp đồng kì hạn người tham gia phải đối mặt với rủi ro phía đối tác sẽ không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng.

  • Trong hợp đồng kì hạn, các bên đều xác định rõ đối tác của mình là ai, còn trong hợp đồng tương lai, các đối tác được xác định ngẫu nhiên

Có 2 đối tượng chính mua hay sử dụng hợp đồng tương lai, một là các nhà đầu tư muốn dự phòng rủi ro (hedger), và hai là các nhà đầu cơ trước những dự đoán về biến động giá trên thị trường.

TRÍCH DẪN TỪ: http://saga.vn/dictview.aspx?id=1658

BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: GIỚI HẠN VÀ ĐIỀU KIỆN

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA

Vào thời điểm hiện nay, pháp luật đã ghi nhận trách nhiệm bồi thường của nhà nước ở nhiều cấp độ văn bản pháp luật khác nhau. Ý niệm chung về trách nhiệm đó đã xuất hiện tại Điều 74 khoản 4 Hiến pháp 1992, các Điều 619, 620 Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) quy định chi tiết hơn về trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cơ quan tố tụng gây hại cho cá nhân và tổ chức, Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định bồi thường cho công dân khi bị khởi tố hoặc chịu án oan sai. Ngoài ra còn các quy định tản mạn khác, như Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 về trách nhiệm của thẩm phán khi quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Như vậy, dù chưa có một đạo luật riêng, nhưng trách nhiệm bồi thường nhà nước đã bước đầu được ghi nhận bằng nhiều văn bản pháp luật. Trên thực tế đã xuất hiện một số vụ kiện đòi cơ quan tố tụng bồi thường cho người chịu án oan sai theo Nghị quyết 388 được trích dẫn ở trên. Đi xa hơn những ghi nhận pháp lý kể trên, trong xã hội đang có những tranh luận dưới đây:

(i) Chính sách lớn mà sai thì ai chịu, ví dụ những chính sách lớn liên quan đến đầu tư công, mở rộng công nghiệp hóa mà quá thu hẹp đất trồng lúa của nông dân, ô nhiễm suy thoái môi trường. Kể cả trong các chính sách giáo dục lớn, các cuộc cải cách giáo dục chưa giúp cho nguồn nhân lực Việt Nam có năng lực cạnh tranh hơn để đáp ứng yêu cầu công việc (ví dụ mới đây cho thấy, trong 2000 người dự tuyển vào làm cho hãng Intel đặt tại Việt Nam, phần lớn là cử nhân các trường kỹ thuật, hãng này chỉ chọn được 90 người; như vậy chưa đầy 5% cử nhân đáp ứng yêu cầu công việc). Nếu những chính sách này chưa trúng và chưa đúng, gây hậu quả nặng nề và lâu dài, thì nhà nước có bồi thường không, và bồi thường cho ai?

Đọc tiếp

XÁC ĐỊNH HIỆU LỰC PHÁP LUẬT CỦA BẢN ÁN

TRẦN THỊ HỒNG VIỆT

Để xác định một bản án có hiệu lực pháp luật hay chưa cần phải căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng đối với từng loại vụ án và từng trường hợp. Trong phạm vi bài viết này, người viết muốn đề cập đến các bản án dân sự.

Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự quy định thời hạn kháng cáo như sau:

1.Thời hạn kháng cáo đối với bản án củaTòa án cấp sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày tòa tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

2….

3.Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì.

Điều 252 Bộ luật tố tụng dân sự quy định thời hạn kháng nghị như sau:

1.Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.

2…

Theo nội dung của hai điều luật trên, thời hạn kháng cáo và kháng nghị được theo hai tình huống:

Đọc tiếp

TỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH MÌNH, TRƯỚC KHI ĐIỀU CHỈNH NGƯỜI KHÁC

26soul_xlarge1 NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG – Giảng viên tâm Việt Group

Chuyện kể rằng, khi bà mẹ dẫn cậu con trai mắc chứng ăn rất nhiều đường đến gặp thánh Gandi, nhờ ông khuyên cậu bé không ăn nhiều đường nữa, thánh đã bảo bà mẹ dẫn cậu bé về và hẹn một tuần sau thì quay lại.

Một tuần sau bà mẹ dẫn con đến và rất ngạc nhiên vì sau 5 phút cậu bé nói chuyện với thánh Gandi, cậu bé đã ăn ít đường hơn hẳn. Bà mẹ không hiểu vì sao, chỉ 5 phút Thánh Gandi nói chuyện với cậu bé, mà mẹ con bà phải chờ đợi mất một tuần. Bà đem thắc mắc của mình đến hỏi thánh. Lúc đó Thánh Gandi chỉ nói với bà đúng một câu: “Tuần trước tôi cũng là người ăn rất nhiều đường!”. Thánh Gandi đã cho chúng ta bài học rất lớn, bài học về “Tự điều chỉnh chính mình trước khi điều chỉnh người khác”.

Khi hỏi bất kỳ một ai đó về chiếc mũi của anh ta, câu trả lời nhận được sẽ là: “Tôi đâu có nhìn được mũi tôi, anh nên hỏi tôi về chiếc mũi của anh thì hơn.” Mỗi người đều có khả năng nhìn nhận đánh giá người khác rất giỏi mà bỏ qua việc nhìn nhận và đánh giá chính mình, có lẽ việc đó quá khó đối với mỗi chúng ta. Ta thường nhìn ngay thấy điểm xấu của người khác có khi ngay từ lần đầu gặp mặt, ta cũng rất dễ khó chịu trước những thói xấu của người khác như việc anh chàng ngồi bên cạnh đi muộn đến lần thứ ba trong tháng, hay anh trưởng phòng dùng điện thoại công ty nói chuyện với vợ, cô lao công quên không để khăn giấy vào toalet,….

Đọc tiếp

DOANH NGHIỆP DÂN DOANH – TRỤ CỘT CỦA KINH TẾ VIỆT NAM?

Với cơ chế kinh tế thời mở cửa, doanh nghiệp dân doanh đang ngày càng khẳng định được vai trò của mình, dần trở thành trụ cột của kinh tế Việt Nam. Thế nhưng, các doanh nghiệp này cũng gặp rất nhiều khó khăn và cần có được sự trợ giúp của một chính sách tích cực – theo như báo cáo thường kỳ của VNR500Hiện nay, có khoảng 300.000 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong đó có 8.500 dự án FDI và trên 2.000 doanh nghiệp nhà nước, còn lại là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân.

Mục tiêu đặt ra là tới năm 2010, Việt Nam cần có thêm trên 200.000 doanh nghiệp tư nhân nữa được đăng ký hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp tư nhân cả nước lên xấp xỉ 500.000 doanh nghiệp.

Không chỉ phát triển nhanh chóng về số lượng, khu vực doanh nghiệp tư nhân đang có những tiến bộ đáng ghi nhận về hiệu quả và sức cạnh tranh. Các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn và có sức cạnh tranh cao đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều trong các ngành kinh tế quan trọng của đất nước, với các điển hình như công ty FPT, Thép Việt, Ngân hàng thương mại Á Châu, Ngân hàng Sacombank, tập đoàn Tôn Hoa Sen, Prime Group, Hoàng Anh Gia Lai, tập đoàn Hoà Phát…

Tuy nhiên, con đường phát triển xa hơn nữa của các doanh nghiệp tư nhân lớn Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn. Ngoài những khó khăn đương nhiên mà doanh nghiệp lớn của các nước đang phát triển đều gặp phải như vốn, nhân sự hay công nghệ, còn một khó khăn đặc thù ở Việt Nam, đó là nhận thức và quan điểm xã hội. Dư luận xã hội vẫn có nhiều bất lợi cho sự tự khẳng định của các doanh nghiệp tư nhân lớn. Về mặt quan điểm chính sách, liệu các doanh nghiệp tư nhân lớn có được khuyến khích trở các doanh nghiệp trụ cột của nền kinh tế hay không, khi mà mục tiêu chính sách vẫn là duy trì “vai trò chủ đạo” của kinh tế nhà nước?

Đọc tiếp

XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU; CẦN MỘT CHƯƠNG TRÌNH DÀI HẠN

TCPTKT – Ở Việt Nam, khái niệm thương hiệu đã không còn xa lạ trong đời sống kinh tế – xã hội. Thương hiệu là một tài sản đặc biệt, dù vô hình nhưng có giá trị to lớn đối với doanh nghiệp (DN), nhất là một thương hiệu nổi tiếng mang tính toàn cầu. Đoàn tàu “thương hiệu” Việt Nam đã và đang chuyển bánh nhưng để tăng tốc thì dường như không phải là một điều dễ dàng.

Kết quả điều tra tại 500 DN ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam cho thấy: 57% số DN coi việc xây dựng và phát triển thương hiệu là mối quan tâm hàng đầu, 43% quan niệm thương hiệu là hình ảnh, uy tín tài sản vô hình của công ty. Điều đáng ghi nhận là các tỷ lệ trên hầu như không có sự khác biệt giữa DN tư nhân và Nhà nước, chứng tỏ dưới sức ép của thị trường cạnh tranh, không cho phép DN nào có thể yên tâm về những thành quả đã đạt được mà phải nỗ lực phấn đấu nhằm khẳng định tên tuổi, sản phẩm của công ty. Từ nhận thức trên, các DN đã bắt tay vào hành động với những mức độ khác nhau. Nhiều chương trình quảng bá có chất lượng, đầu tư bài bản đã góp phần hỗ trợ một số thương hiệu Việt thành công nhanh chóng. Hàng loạt các chiến dịch tổng lực của Number One, Bia Sài Gòn, Cafe Viet, Vinamilk, Comfor, Nutifood…, phối hợp triển khai trên nhiều kênh thông tin kèm theo một kế hoạch được thiết kế chuyên nghiệp đánh dấu bước phát triển về chất trong hoạt động quảng bá của các DN. Bên cạnh đó chi phí về tài chính cho hoạt động này so với trước kia cũng đã có sự gia tăng, chứng tỏ quyết tâm đầu tư cho thương hiệu, đã hình thành trong nhận thức của nhiều nhà quản lý. Một điểm nổi bật khác, xu hướng thuê dịch vụ trong hoạt động xây dựng, quảng bá thương hiệu của các DN ngày càng tăng góp phần thúc đẩy thị trường dịch vụ tư vấn hỗ trợ DN phát triển theo hướng chuyên nghiệp cao. Theo thống kê, có tới gần 70% DN được hỏi có sử dụng loại dịch vụ này. Vấn đề đặt ra là những trở ngại gì trong xây dựng và quảng bá thương hiệu Việt Nam trên thị trường?

Đọc tiếp

%d bloggers like this: